Để hiểu về giới tính- hiểu về cộng đồng LGBT

Trong Trong buổi hội thảo ngày 17 tháng sáu năm 2022 của Hội Y học giới tính Việt Nam, tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, ThS. BS. Nguyễn Hồ Vĩnh Phước đã đề cập khái niệm về bản dạng giới và xu hướng tính dục. Tuy nhiên, tôi thấy cần phải nêu các khái niệm liên quan theo Hướng dẫn Chăm sóc Toàn diện cho Người Chuyển giới và Cộng đồng Chuyển giới tại Châu Á và Thái Bình Dương năm 2015. Hướng dẫn tổng thể Châu Á và Thái Bình Dương được thừa hưởng rất nhiều từ Hướng dẫn tổng thể của vùng Ca-ri-bê về các phác đồ lâm sàng, dựa trên các công trình nghiên cứu của Trung tâm Sức khỏe Chuyển giới của Đại học California, San Francisco (UCSF). Những phần này đã được chỉnh sửa bởi Tiến sĩ Asa Radix và nhóm hiệu đính y học trong khu vực.

Có 4 khái niệm liên quan đến vấn đề giới. Đó là giới tính sinh học, bản dạng giới, thể hiện giới, và xu hướng tình dục (theo tôi, không nên dùng xu hướng tính dục, vì tính dục là từ  được dùng để dịch chữ libido– năng lượng tinh thần bản năng mà theo lý thuyết phân tâm học có nguồn gốc từ những động lực sinh học nguyên thủy (như đối với khoái cảm tình dục hoặc sự tự bảo tồn) và được thể hiện trong hoạt động có ý thức.)

Những định nghĩa này dựa trên những định nghĩa đã được thống nhất sử dụng trong các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên Hợp Quốc.

Giới tính: là các đặc tính sinh học và cơ thể (gien, nội tiết, giải phẫu) dùng để phân loại con người ta thành nhóm nam giới hay nữ giới (xem thêm định nghĩa về liên giới tính). Tập hợp những đặc điểm sinh học này không loại trừ lẫn nhau, vì chúng xuất hiện một cách tự nhiên dưới nhiều mức độ và sự kết hợp khác nhau. Tuy vậy, trong thực tế, giới tính thường được dùng để phân cực hóa con người vào hệ thống nhị nguyên hoàn toàn đối nghịch nhau (nam và nữ). Thông thường, việc phân định được dựa trên các đặc điểm giới tính chủ yếu (cơ quan sinh dục) và các đặc điểm giới tính thứ yếu (các đặc điểm cơ thể không liên quan tới cơ quan sinh dục như sự phát triển ngực, lông).

Giới tính khi sinh ra: là giới tính mà người đó được xác định ngay khi sinh ra, hoặc trong thời gian ngắn sau khi sinh ra. Việc xác định này có thể phù hợp hoặc không phù hợp với cảm nhận về bản dạng giới của họ khi lớn lên. Trong các tài liệu y khoa và xã hội học, khái niệm này thường được gọi là “giới tính khi sinh” hoặc “giới tính sinh học.” Đối với hầu hết mọi người, bản dạng giới và thể hiện giới sẽ thống nhất với giới tính khi sinh ra của họ. Đối với người chuyển giới, bản dạng giới hoặc thể hiện giới sẽ khác với giới tính khi sinh ra của họ. (Coleman và cộng sự, 2011).

Bản dạng giới: là cảm nhận bên trong của một người về việc họ là nam, nữ, một giới khác, hay kết hợp các giới. Bản dạng giới của một người có thể thống nhất hoặc không thống nhất với giới tính khi sinh ra của họ.

Thể hiện giới: là cách và một người truyền tải những đặc tính được quy định bởi văn hóa về nam tính, nữ tính (hoặc cả hai, hoặc không cái nào) ra bên ngoài thông qua ngoại hình cơ thể (bao gồm quần áo, phụ kiện, kiểu tóc, trang sức, mỹ phẩm), cử chỉ điệu bộ, nói năng, và các khuôn mẫu hành vi trong giao tiếp với người khác.

Không theo định chuẩn giới hay đa dạng giới: để chỉ một người mà bản dạng giới hay thể hiện giới của họ khác với những mong đợi hay định khuôn của xã hội. Không phải tất cả người chuyển giới đều không theo định chuẩn giới. Nhiều người chuyển giới, cũng như bất kỳ ai khác, thường thấy thoải mái với việc tuân theo những mong đợi của xã hội về các chuẩn mực cho một người nam hoặc một người nữ. Ngược lại, nhiều người khác không phải là người chuyển giới vẫn có thể không theo định chuẩn giới, do thể hiện giới chứ không phải bản dạng giới của họ.

Khái niệm về bản dạng giới bao gồm khái niệm bất nhị nguyên- hay là phổ- chứ không phải xu hướng tình dục. Một người với tình trạng liên giới tính có thể nhận mình là người chuyển giới hay đa dạng giới, nhưng số khác thì không. Mặc dù nhiều người với tình trạng liên giới tính có thể nhận giới tính hay bản dạng giới của họ là không theo hệ nhị nguyên, nhưng phần còn lại thì vẫn nhận mình là nam hay nữ.

Xu hướng tình dục: là khả năng của mỗi người để có những cảm xúc, sự hấp dẫn sâu sắc và cuốn hút về tình dục, mối quan hệ gần gũi với các cá nhân thuộc giới tính khác (dị tính) hay cùng giới tính (đồng tính) hoặc nhiều hơn một giới (song tính, toàn tính) (Ủy ban Luật gia Quốc tế ICJ, 2007) (Những người nhận mình là vô tính là người không trải qua bất kỳ sự hấp dẫn về tình dục nào)

Các đặc điểm như giới tính sinh học, bản dạng giới, thể hiện giới, và xu hướng tình dục thể hiện tạo thành bốn đặc tính cá nhân riêng biệt. Chúng vừa độc lập với nhau và vừa có thể kết hợp với nhau theo những cách khác nhau. Đối với hầu hết các khu vực trên thế giới, bao gồm khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, có một sự mặc định mang tính văn hóa là gộp những yếu tố này thành một. Điều đó dẫn tới giả thuyết rằng một người khi sinh ra là nam sẽ được mặc định hiểu rằng họ sẽ lớn lên và tự nhận mình là nam, có những thể hiện giới nam tính, và chỉ bị hấp dẫn bởi nữ (dị tính). Nếu một người sinh ra là nữ, họ cũng có những mong đợi tương tự, mặc định họ sẽ nhận mình là nữ, có thể hiện nữ tính, và thích người khác giới.

Phiền muộn giới: “Là những sự không thỏai mái hay lo âu gây ra bởi sự khác nhau giữa giới tính tự nhận của một người và giới tính khi sinh ra của họ (hoặc với vai trò giới gắn với họ và/hoặc các đặc điểm giới tính chủ yếu và thứ yếu). Một vài người không theo định chuẩn giới cũng trải qua phiền muộn giới trong một số giai đoạn cuộc đời của họ” (Coleman và cộng sự, 2011).

Đăng bởi anhdo73

Hoạt động can thiệp đa ngành: Tâm lý lâm sàng, Tâm thần, Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền

Bình luận về bài viết này