Hiểu đúng khái niệm “chơi” trong can thiệp sớm

Nghĩa phổ biến nhất của từ “PLAY” trong tiếng Anh, khi dịch sang tiếng Việt, là một hoạt động chơi đùa, giải trí (danh từ), tham gia một trò chơi (động từ). Tuy nhiên, theo đại từ điển Anh- Việt của Bùi Phụng, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Công ty sách Hà Nội (2003) thì bảng nghĩa của từ bao gồm:

Danh từ

1. Chơi đùa, giải trí. Trẻ con đang nô đùa trong công viên.

2 Đùa bỡn đối xử một cách khinh thường. Hãy nghiêm chỉnh đường đùa bỡn với tôi.

3. Suy nghĩ không có mục đích cụ thể. Anh ta thích suy nghĩ viển vông từ những ý niệm.

4. Chơi chữ (sử dụng tính đa nghĩa hay đồng âm của từ). Anh ta chơi chữ.

5. Lợi dụng. Họ đang lợi dụng những sự sợ hãi.

6 Cử động nhẹ nhàng. Họ nhìn ánh sáng chập chờn trên mặt nước.

7. Hoạt động trong những giới hạn chặt chẽ. Đàn piano này chơi hay.

8 Chơi nhạc. Kéo đàn violon.

9. Phát ra âm thanh hoạt động. Radio mở rất to. Cái radio của nó đang phát âm thanh.

10. Biểu diễn, đóng kịch. Đóng trong một bộ phim.

11. Đánh bạc.

12 Chơi, đánh, đá. Chơi hay.

13. Đối xử ăn ở. Ăn gian.

14. Nã súng vào. Phun nước.

15. Đình công (công nhân).

Động từ

1. Tham dự một công việc, một trò chơi. Chơi bóng đá. Tham dự cuộc tranh cãi.

2. Đóng vai. Đóng vai thằng ngốc.

3. Chơi nhạc. Kéo đánh thổi. Kéo đàn violon.

4. Khai thác lợi dụng. Lợi dụng thị trường.

5. Chiếu (đèn pha), phun (nước).

6. Chơi xỏ. Chơi ai một vố?

7. Giật giật dây câu cho cá mệt lử.

Danh từ

1. Trò chơi cuộc chơi, hoạt động để giải trí. Trò chơi trẻ con. Tiếng cười vui vẻ của bọn trẻ đang chơi đùa. Cô ấy chỉ đùa thôi, cô ấy không có ý định thật đâu.

2. Cách chơi, lối chơi. Lối chơi phòng ngự.

3. Vở kịch. Một trong những vở kịch nổi tiếng của …

4. Phạm vi hoạt động.

5. Cờ bạc.

6. Luật chơi.

7. Ảnh hưởng.

Vì vậy “chơi” ở trẻ em phải được hiểu là một hoạt động (gồm cả nhận thức và vận động) mà trong đó trẻ tiến hành quá trình học tập, với cả 2 hình thức: điều kiện cổ điển và điều kiện tạo tác. Các hoạt động này của trẻ dần dần sẽ được cấu trúc, nghĩa là gồm nhiều thành tố có ý thức, vô thức sẽ giảm dần. Và chuẩn bị cho khả năng tham gia hoạt động cấu trúc chặt chẽ ở giai đoạn học đường. Hoạt động chơi của trẻ em vì thế phải được mô tả theo lý thuyết phát triển nhận thức của Piaget cũng như lý thuyết phát triển xã hội của Erikson, từ đó đặt ra các khái niệm can thiệp.

Khi theo học các course ngôn ngữ trị liệu ở Việt Nam hiện nay ta có thể bị rối về khái niệm này, và càng khó để hiểu khái niệm “can thiệp chơi”. Nếu chữ ta nhìn chữ “chơi” theo góc độ là một hoạt động, thì việc nhận ra phương pháp can thiệp này xuất phát ở bên hoạt động trị liệu (OT) sẽ không làm ta ngạc nhiên. Đồng thời việc tìm hiểu và nâng cao kiến thức về lĩnh vực can thiệp này sẽ chuẩn xác.

Đăng bởi anhdo73

Hoạt động can thiệp đa ngành: Tâm lý lâm sàng, Tâm thần, Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền

Bình luận về bài viết này