Phần này chỉ đề cập đến tổng quan về các can thiệp sớm. Điều này có nghĩa là, các can thiệp dành cho trẻ trước tuổi đến trường. Trẻ rối loạn phát triển với mức tuổi sinh học lớn hơn, mặc dù có tuổi tâm thần tương đương trẻ dưới 6 tuổi sinh học, thì việc can thiệp vẫn có khác biệt. Các chương trình can thiệp hướng tới phụ huynh, thậm chí chương trình đào tạo nhà trị liệu, cần làm rõ hơn về vấn đề này trong tương lai, vì hiện nay điều này khá mập mờ, làm khó người học.
Chương trình can thiệp sớm và can thiệp hành vi chuyên sâu sớm (EI/EIBI)
Các phương pháp điều trị can thiệp sớm được thực hiện trước khi bắt đầu đi học chính thức và nhắm mục tiêu vào các thiếu hụt cốt lõi của tự kỷ bao gồm cải thiện giao tiếp và xã hội hóa, và giảm các hành vi thách thức. Bắt đầu can thiệp sớm càng sớm càng tốt có thể cải thiện kết quả lâu dài cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ (Zwaigenbaum và cộng sự, 2015). Do đó việc xác định sớm nguy cơ có rối loạn phổ tự kỷ là rất quan trọng để có thể bắt đầu các can thiệp có mục tiêu. Có sự đồng thuận rằng EI hữu ích trong việc giải quyết một số triệu chứng cốt lõi của tự kỷ. Các chương trình can thiệp sớm mà bao gồm phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong cách tiếp cận, đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều nhất và thu được nhiều hỗ trợ nghiên cứu nhất. Các chương trình EIBI nên bao gồm một chương trình giảng dạy toàn diện nhắm vào nhiều lĩnh vực phát triển và được cá nhân hóa phù hợp với trình độ phát triển của trẻ, điểm mạnh cá nhân, sự thiếu hụt kỹ năng, và các ưu tiên của gia đình. Các chương trình điều trị can thiệp sớm thường sử dụng nhiều chiến lược hành vi khác nhau để dạy các kỹ năng mới, tăng các hành vi mong muốn, và giảm các hành vi thách thức hoặc do can thiệp. Các chương trình điều trị can thiệp sớm thường xem xét trình tự phát triển thần kinh điển hình để xác định đâu là kỹ năng tiếp theo cần nhắm tới. Thông thường cha mẹ hoặc những người chăm sóc khác là một phần quan trọng của liệu pháp và được đào tạo về các kỹ thuật hành vi để đóng vai trò là nhà đồng trị liệu. Các biện pháp can thiệp được thực hiện trực tiếp và theo nhóm nhỏ tại nhà và tại các trung tâm hoặc trường học. Các phương pháp và thiết lập phân phối khác nhau này được thiết kế để giúp trẻ em tổng quát hóa các kỹ năng giữa mọi người và mọi môi trường. Trẻ em tham gia các chương trình điều trị can thiệp sớm EIBI thường được can thiệp có cấu trúc 20 đến 30 giờ mỗi tuần trong ít nhất 2 năm. Có một số chương trình EIBI cụ thể bao gồm nhiều chiến lược được xác định là phương pháp điều trị đã được thiết lập hoặc mới hơn.
1 JASPER (Cùng chú ý, Chơi tượng trưng, Gắn kết và Quy định) Là một phương pháp tiếp cận phát triển kết hợp cả chiến lược hành vi và phát triển, để cải thiện hoạt động vui chơi, giao tiếp xã hội, tương tác/ gắn kết và điều chỉnh hành vi [để tuân thủ], được phát triển bởi tiến sĩ Connie Kasari tại Trung tâm nghiên cứu và điều trị tự kỷ, Đại học California, Los Angeles. Phương pháp JASPER được sử dụng cho trẻ từ 12 tháng đến 8 tuổi với một dải số rộng về khả năng phát triển (Kasarylab, 2016). Trong phương pháp JASPER, bước đầu tiên là đánh giá kỹ năng chơi của trẻ, sau đó sử dụng trình độ chơi hiện tại của trẻ để tạo thói quen chơi linh hoạt và có thể mở rộng cho trẻ. Trong đó, sự chú ý chung là sự phối hợp giữa chú ý đồ vật và con người, với mục đích chia sẻ. Chẳng hạn, nó bao gồm việc nhìn giữa người và đồ vật, chỉ ra và chỉ để hiển thị. Trong chơi tưởng tượng/ biểu tượng, các hành động chơi phù hợp được mô phỏng. Sự chú ý chung được tạo điều kiện trong các thói quen chơi và sự đa dạng hơn trong các loại hình chơi được khuyến khích. Về sự gắn kết, JASPER sử dụng một số chiến lược để cải thiện trạng thái gắn kết của trẻ với những người khác trong quá trình can thiệp. Mục đích là giúp trẻ không bị bó buộc hoặc chỉ tập trung vào đồ vật, sang trạng thái tương tác cao hơn với những người khác, đồng thời tăng cường sự đa dạng và linh hoạt của chúng, để chóng đạt được các cấp độ chơi cao hơn. Và cuối cùng, đối với các quy định, một loạt các chiến lược được sử dụng để xử lý các hành vi tự kích thích gây trở ngại cho việc học, thiếu sự gắn kết và không tuân thủ (Liệu pháp hành vi và test ABA).
Bằng chứng cho việc điều trị: đã có nhiều nghiên cứu được đưa ra để kiểm tra hiệu quả của phương pháp JASPER trong việc cải thiện kỹ năng chú ý chung, vui chơi và ngôn ngữ của trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, bằng cách can thiệp trực tiếp trên trẻ hoặc giáo viên và người chăm sóc làm trung gian can thiệp. Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu về JASPER cho thấy trẻ được can thiệp bằng phương pháp này có sự cải thiện đáng kể hơn về ít nhất một kết quả liên quan đến sự chú ý chung của trẻ, sự tham gia chung, kỹ năng chơi và kỹ năng ngôn ngữ, so với trẻ không được can thiệp bằng JASPER. Các bậc cha mẹ và nhà giáo dục, hầu hết đều có thể sử dụng các kỹ thuật JASPER. Không có trẻ em, phụ huynh, giáo viên hoặc đặc điểm điều trị nhất quán nào ảnh hưởng đến việc can thiệp JASPER. Không có nghiên cứu nào đáp ứng tất cả các chỉ số của một nghiên cứu có chất lượng tốt do Hội đồng vì Trẻ em Đặc biệt (Council of Exceptional Children) vạch ra (Waddington và cộng sự, 2021). Có một số nghiên cứu như sau:
- Trong thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng đầu tiên, 58 trẻ em có rối loạn phổ tự kỷ từ 3 đến 4 tuổi được phân ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp chú ý chung, nhóm can thiệp chơi biểu tượng, và nhóm chứng. Các can thiệp được thực hiện 30 phút mỗi ngày trong 5 đến 6 tuần. Cả hai lượng giá có cấu trúc về sự chú ý chung và các kỹ năng chơi, cũng như tương tác giữa mẹ và con, và sự phát triển ngôn ngữ, đều được thu thập trước và sau can thiệp, bởi các đánh giá viên độc lập. Kết quả chỉ ra rằng hai nhóm can thiệp đều cải thiện đáng kể so với nhóm đối chứng về một số hành vi nhất định. Trẻ tham gia can thiệp chú ý chung bắt đầu thể hiện rõ hơn và đáp ứng tốt hơn với sự chú ý chung, trên đánh giá chú ý chung có cấu trúc, và sự chú ý chung do trẻ khởi xướng nhiều hơn trong tương tác giữa mẹ và con. Những đứa trẻ trong nhóm chơi biểu tượng đã thể hiện các kiểu chơi tượng trưng đa dạng hơn khi tương tác với mẹ của chúng, và các cấp độ chơi cao hơn về cả đánh giá chơi và tương tác với mẹ của chúng. Về ngôn ngữ, kết quả chỉ ra rằng mức tăng ngôn ngữ diễn đạt ở cả hai nhóm điều trị cao hơn so với nhóm chứng, và kết quả không thể giải thích được do sự khác biệt trong các can thiệp khác mà trẻ tham gia (Kasary và cộng sự, 2006, 2008).
- Can thiệp về sự tham gia gắn kết qua trung gian người chăm sóc: can thiệp gồm 24 phiên do người chăm sóc làm trung gian với sự theo dõi một năm sau đó. So với những người chăm sóc và trẻ mới biết đi được phân ngẫu nhiên vào nhóm đối chứng trong danh sách chờ, nhóm điều trị tức thì (immediate treatment- IT) đã có những cải thiện đáng kể trong các lĩnh vực mục tiêu của sự tham gia gắn kết. Nhóm IT đã thể hiện những cải thiện đáng kể với quy mô hiệu ứng từ trung bình đến lớn về khả năng đáp ứng của họ đối với sự chú ý chung, và sự đa dạng của họ trong các hành vi chơi chức năng sau can thiệp, với sự duy trì các kỹ năng này sau can thiệp 1 năm (Kasari và cộng sự, 2010)
- Giáo viên thực hiện các biện pháp can thiệp JASPER: nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh lớp học ở 6 trường chuyên biệt tự kỷ. Các giáo viên và nhóm hỗ trợ đầu tiên trong các lớp học tiền tiểu học công lập ở Hoa Kỳ đã nhận được chương trình 8 tuần theo chương trình JASPER sửa đổi và được triển khai thành hai buổi 15 phút mỗi ngày trong 4 tuần đầu tiên, với hai buổi 15 phút mỗi tuần cho 4 tuần còn lại. Nhóm thứ hai đã có trong danh sách chờ. Các học sinh trong nghiên cứu là các trẻ 3 đến 5 tuổi, được chẩn đoán mắc rối loạn phổ tự kỷ. Việc thực hiện phương pháp JASPER của giáo viên đã được đánh giá trong suốt nghiên cứu. Các thang lượng giá bao gồm Thang Mullen, Thang đo Giao tiếp Xã hội Sớm (Early Social Communication Scales) và Thang lượng giá Chơi có Cấu trúc (The Structured Play Assessment- SPA). Các chỉ số đo lường cho cả trẻ em và giáo viên được thu thập ở 3 điểm: bắt đầu, kết thúc (sau 2 tháng), và sau một tháng theo dõi (sau 3 tháng)- chỉ dành cho nhóm can thiệp. Kết quả cho thấy rằng những trẻ nhận được sự hỗ trợ bằng phương pháp JASPER hàng ngày trong khoảng thời gian 2 tháng cho thấy sự gia tăng đáng kể sự bắt đầu trong việc chú ý chung ngôn ngữ, tham gia chung và độ dài trung bình của lời nói. Những tác động tích cực của chương trình vẫn được duy trì trong thời gian theo dõi một tháng sau khi rút khỏi nghiên cứu (Chang và cộng sự, 2016).
2 ESDM và Các Chương trình Định hướng Phát triển: Mô hình can thiệp sớm Denver (The Early Start Denver Model- ESDM) là một can thiệp hành vi theo hướng phát triển tự nhiên toàn diện nghĩa là các kỹ năng được dạy trong môi trường tự nhiên của trẻ và thực hành thông qua vui chơi kết hợp một số kỹ thuật giảng dạy từ Phân tích Hành vi Ứng dụng (ABA) nhắm đến nhiều lĩnh vực phát triển bao gồm giao tiếp hiểu và diễn đạt, các kỹ năng bao gồm kỹ năng xã hội, chơi, nhận thức, vận động tinh, vận động thô, và các kỹ năng hành vi thích ứng. Các kỹ năng trong mỗi lĩnh vực này được phân loại theo mức độ phát triển, dựa theo các mốc phát triển thần kinh của trẻ em điển hình ở từng kỹ năng, và được dạy tuần tự. Sự can thiệp của mô hình can thiệp sớm Denver thường được cung cấp cho trẻ mới biết đi mà có rối loạn phổ tự kỷ trong các buổi trị liệu chuyên sâu 1:1. Trẻ em thường bắt đầu can thiệp trong độ tuổi từ 1 đến 3 tuổi, và tiếp tục điều trị cho đến khi chúng được 4 đến 5 tuổi. Roger và Dawson khuyên trẻ nên tham gia ít nhất 15 đến 20 giờ can thiệp mỗi tuần, do chuyên viên trị liệu hướng dẫn, mỗi phiên can thiệp thường kéo dài khoảng 1 giờ. Ngoài nhóm trị liệu lâm sàng, cha mẹ và gia đình sắm một vai trò lớn trong mô hình điều trị ESDM. Huấn luyện phụ huynh sử dụng các kỹ thuật ESDM bên ngoài các buổi trị liệu chính thức, nhằm mục đích tối đa hóa sự phát triển của trẻ, do đó liều lượng can thiệp về cơ bản có thể tăng lên. Tương tự như JASPER, bước đầu tiên trong can thiệp theo Mô hình can thiệp sớm Denver là đánh giá mức độ phát triển của trẻ trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Công cụ được sử dụng để đánh giá sự phát triển của mỗi đứa trẻ được gọi là danh sách kiểm tra chương trình giảng dạy (Curriculum Checklist) bao gồm tất cả các lĩnh vực trên (Katherine Havlik, 2016)
Bằng chứng cho việc điều trị trong đánh giá có hệ thống của Waddington và cộng sự năm 2016 về hiệu quả của ESDM trong 15 nghiên cứu cho thấy rằng, hầu hết các nghiên cứu đều báo cáo kết quả tích cực của trẻ em, cha mẹ và nhà trị liệu. Phát hiện này đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Ryberg vào năm 2015. 8 bài báo đáp ứng các tiêu chí đưa vào, bao gồm hai thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, bốn thử nghiệm có đối chứng, và hai nghiên cứu thuần tập quan sát, cho thấy rằng ESDM là một mô hình can thiệp hiệu quả, giúp cải thiện nhận thức, ngôn ngữ, và hành vi thích ứng. Các chiến lược ESDM được cha mẹ cung cấp trong các cơ sở nhóm cộng đồng và tại nhà, có tiềm năng hiệu quả và khả thi (Ryberg, 2015). Có một số nghiên cứu như sau:
- Năm 2010, 48 trẻ được chẩn đoán có rối loạn phổ tự kỷ, từ 18 đến 30 tháng tuổi, được phân ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm, (1) can thiệp ESDM được thực hiện bởi các nhà trị liệu được đào tạo và cha mẹ trong 2 năm, (2) giới thiệu đến các nhà cung cấp dịch vụ trong cộng đồng để được can thiệp thông thường trong cộng đồng. So với những trẻ nhận được sự can thiệp của cộng đồng, trẻ được can thiệp bằng ESDM cho thấy những cải thiện đáng kể về chỉ số IQ, hành vi thích ứng, và chẩn đoán tự kỷ. 2 năm sau khi can thiệp, trung bình nhóm ESDM cải thiện được 17,6 điểm tiêu chuẩn (1SD= 15 điểm) so với 7,0 điểm tiêu chuẩn của nhóm so sánh. Nhóm ESDM duy trì tốc độ phát triển về hành vi thích ứng so với một mẫu tiêu chuẩn về trẻ em đang phát triển điển hình. Ngược lại trong khoảng thời gian 2 năm nhóm so sánh cho thấy sự chậm trễ hơn trong hành vi thích ứng (Dawson và cộng sự, 2010).
- Vào năm 2012 một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 98 trẻ em và gia đình, đã được thực hiện ở 3 địa điểm khác nhau, để xem xét hiệu quả của việc bố mẹ cung cấp Mô hình can thiệp sớm Denver (P-ESDM), đã khuyến khích việc sử dụng của cha mẹ với phong cách tương tác đi theo việc lấy trẻ làm trung tâm, đưa nhiều cơ hội giảng dạy và hoạt động, so với việc can thiệp tại cộng đồng như bình thường. Trong khi đó trẻ mắc ASD được nhà trị liệu can thiệp một giờ một tuần trong 12 tuần. Không có ảnh hưởng của việc phân nhóm trên các đặc điểm tương tác giữa cha mẹ và con cái, hoặc kết quả của bất kỳ trẻ nào. Ở cả hai nhóm, cha mẹ đều cải thiện kỹ năng tương tác và cả hai nhóm trẻ đều thể hiện sự tiến bộ rõ ràng. Cha mẹ nhận P-ESDM đã chứng tỏ sự liên minh làm việc mạnh mẽ hơn đáng kể với nhà trị liệu của họ, so với nhóm cộng đồng. Tuy nhiên các nghiên cứu can thiệp do cha mẹ thực hiện đối với ASD sớm, cho đến nay, vẫn chưa chứng minh được những tác động lớn mà được thấy trong các nghiên cứu điều trị chuyên sâu (Rogers và cộng sự, 2012)
- Vào năm 2018, thiết kế nghiên cứu tương tự như nghiên cứu trên, ở Trung Quốc, đã được thực hiện. Các chủ đề của P-ESDM đã đưa vào huấn luyện phụ huynh 1,5 giờ mỗi tuần, trong 26 tuần. Kết quả cho thấy nhóm P-ESDM đã thể hiện được sự cải thiện hơn so với nhóm cộng đồng, về sự phát triển nói chung, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ. Mức độ nặng của tự kỷ không thay đổi đáng kể ở các nhóm, nhưng nhóm P-ESDM cho thấy sự cải thiện nhiều hơn về ảnh hưởng xã hội, giao tiếp xã hội do phụ huynh báo cáo, và chơi mang tính biểu tượng hơn, so với nhóm cộng đồng đã làm (Zhou và cộng sự, 2018).
3 Huấn luyện thực nghiệm rời rạc (Discrete- trial training/ DTT) là một kỹ thuật giảng dạy được sử dụng trong một số liệu pháp điều trị cho trẻ em có rối loạn phổ tự kỷ. Đây không hẳn là một liệu pháp. Huấn luyện thực nghiệm rời rạc dựa trên lý thuyết ABA và liên quan đến việc chia nhỏ các kỹ năng thành các thành phần cơ bản nhất của chúng, rồi dạy các kỹ năng đó cho trẻ em từng bước một. Trẻ em nhận được phần thưởng cho tất cả các thành tích của chúng, điều này khuyến khích chúng học tập. DTT có nguồn gốc từ lý thuyết học tập, được phát triển vào đầu những năm 1900. Lý thuyết học tập cho rằng, cách mọi người hành xử trong bất kỳ tình huống nhất định nào, phần lớn được xác định bởi kinh nghiệm trước đây của họ về các tình huống tương tự. Vì vậy huấn luyện thực nghiệm rời rạc sử dụng sự lặp lại, nên trẻ có nhiều cơ hội để học hỏi và thực hành các kỹ năng mới. Quá trình này bao gồm việc đưa ra một chỉ dẫn, như ‘nhặt chiếc cốc lên’. Nếu cần, bạn hỗ trợ thực hiện theo chỉ dẫn bằng lời nói hoặc vật lý như chỉ tay vào cốc. Bạn khen thưởng thành công bằng những lời khen ngợi và một thứ gì đó mà đứa trẻ thích.
Các bằng chứng về điều trị:
- Nghiên cứu dài hạn kéo dài 2 năm đã đánh giá tính thực tiễn và hiệu quả của hai mô hình cung cấp huấn luyện thực nghiệm rời rạc (DTT) cho trẻ khuyết tật phát triển trong một chương trình giáo dục mầm non công lập hiện có. Tại thời điểm ban đầu, tất cả những trẻ tham gia đều cho thấy sự chậm phát triển đáng kể trong một số lĩnh vực hoạt động giao tiếp, kỹ năng vận động, ngôn ngữ, hành vi xã hội thích ứng và nhận thức. Trong năm thứ nhất của can thiệp, mỗi học sinh được sử dụng DTT 10 đến 15 phút mỗi lần, ba lần mỗi ngày học. Trong năm thứ hai, những trẻ tham gia nhận được vận dụng 30 đến 45 phút, một lần mỗi ngày học. Những trẻ tham gia được tiếp xúc với cả hai mô hình phân phối đã tiếp thu kỹ năng mới nhanh hơn đáng kể và học được nhiều hơn trong năm hai, cho thấy hiệu quả và hiệu quả giảng dạy cao hơn khi DTT được cung cấp trong một buổi học dài hơn. Kết quả chỉ ra rằng DTT có tiềm năng được sử dụng thực tế và hiệu quả trong các chương trình mầm non công lập hiện có, để tác động tích cực đến việc học tập và phát triển của trẻ khuyết tật chậm phát triển (Downs và cộng sự, 2008).
- Hiệu quả của một nhóm chương trình đào tạo gia đình, trong đó DTT đã được trình bày để nâng cao kỹ năng của các bậc cha mẹ, được nghiên cứu trên 14 bà mẹ và 14 ông bố. Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa điểm DTT của nhóm can thiệp và nhóm đối chứng. Mặt khác không có sự khác biệt đáng kể giữa hiệu suất DTT của cha và mẹ trong nhóm can thiệp. Ngoài ra những đứa trẻ có cha mẹ trong nhóm can thiệp đã cải thiện kỹ năng bắt chước trong quá trình nghiên cứu (ulu và cộng sự, 2018)
4 Trị liệu phản hồi then chốt (Pevotal respond treatment- PRT) là một phương pháp điều trị hành vi cho chứng tự kỷ dựa trên trò chơi và do trẻ khởi xướng. PRT dựa trên các nguyên tắc của phân tích hành vi ứng dụng. Nhà trị liệu PRT nhắm mục tiêu vào các lĩnh vực then chốt trong sự phát triển của trẻ thay vì làm việc trên một hành vi cụ thể. Bằng cách tập trung vào các lĩnh vực then chốt, PRT tạo ra những cải tiến trên các lĩnh vực khác, về kỹ năng xã hội, giao tiếp ứng xử, và học tập. Một chương trình trị liệu PRT điển hình được điều chỉnh để đáp ứng các mục tiêu và nhu cầu của cá nhân, cũng như thói quen hàng ngày của họ. các chương trình PRT kéo dài từ 25 giờ trở lên mỗi tuần. PRT là một trong những phương pháp điều trị hành vi tốt nhất được nghiên cứu và xác nhận cho tự kỷ. Hơn 20 nghiên cứu cho thấy PRT cải thiện kỹ năng giao tiếp ở nhiều, mặc dù không phải tất cả, trẻ em rối loạn phổ tự kỷ. Hầu hết các nghiên cứu này đều xem xét PRT, do các nhà trị liệu được đào tạo, cung cấp trong các phiên trị liệu một đối một (AutismSpeak). Ví dụ:
- Năm 2019, 48 trẻ có rối loạn phổ tự kỷ và chậm phát triển ngôn ngữ đáng kể, từ 2 đến 5 tuổi, được phân bố ngẫu nhiên vào gói Trị liệu phản hồi then chốt (PRT-P), bao gồm đào tạo cha mẹ và can thiệp tại nhà do nhà lâm sàng cung cấp, hoặc nhóm trì hoãn điều trị, trong 24 tuần. Kết quả phân tích các câu nói của trẻ trong quá trình quan sát thí nghiệm có cấu trúc, cho thấy rằng so với nhóm trì hoãn điều trị, trẻ em trong PRT-P đã chứng tỏ sự cải thiện nhiều hơn về tần suất các câu nói chức năng. đa số các bậc cha mẹ cho nhóm PRT-P (91%), có thể thực hiện PRT với điều kiện duy trì trong vòng 24 tuần. Trẻ em nhận PRT-P cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể trong Quan sát ngắn gọn về thay đổi giao tiếp xã hội (Brief Observation of Social Communication Change), về tiểu mục Ấn tượng cải thiện chung về lâm sàng (Clinical Global Impression Improvement subscale) và về số lượng từ được sử dụng trong bảng câu hỏi báo cáo dành cho phụ huynh (Gengoux và cộng sự, 2019).
- Vào năm 2020, khả năng đối ứng giọng nói (reciprocal vocal contingency) được sử dụng để đo lường thay vì tương tác giữa cha mẹ và con cái. Khả năng đối ứng giọng nói là một phép đo tự động về tính đối ứng giọng nói bắt nguồn từ các mẫu âm thanh kéo dài cả ngày từ môi trường tự nhiên của trẻ. Nghiên cứu này đã so sánh khả năng đối ứng giọng nói đối với 24 trẻ có rối loạn phổ tự kỷ trong nhóm gói Trị liệu phản hồi then chốt và 24 trẻ có rối loạn phổ tự kỷ trong nhóm đối chứng. Nhóm gói Trị liệu phản hồi then chốt nhận được 24 tuần can thiệp, còn nhóm đối chứng đã nhận được các dịch vụ can thiệp thông thường của họ trong thời gian đó. Các nhóm không khác nhau về khả năng đối ứng giọng nói khi bắt đầu can thiệp hoặc sau 12 tuần can thiệp. Tuy nhiên sau 24 tuần, nhóm can thiệp theo gói Trị liệu phản hồi then chốt có mức điểm số khả năng đối ứng giọng nói được xếp hạng cao hơn so với nhóm đối chứng (McDaniel và cộng sự, 2020)
- Vào năm 2021, cha mẹ của 15 trẻ có rối loạn phát triển được đào tạo cha mẹ về PRT hàng tuần trong 12 tuần. Các bài lượng giá xếp hạng phụ huynh chuẩn hóa được thực hiện ngay từ đầu và sau khi điều trị để đo lường những thay đổi ngôn ngữ. Quan sát thí nghiệm có cấu trúc chỉ ra rằng, trẻ em đã chứng tỏ tần suất nói và sự cải thiện lớn hơn đáng kể trên bảng câu hỏi tiêu chuẩn đo lường ngôn ngữ diễn đạt và kỹ năng giao tiếp thích ứng sau PRT. Các phát hiện cho thấy PRT có thể có hiệu quả trong việc cải thiện khả năng ngôn ngữ ở trẻ rối loạn phát triển (Schwartzman và cộng sự, 2021).
5 Chiến lược dạy học theo chủ nghĩa tự nhiên: hầu hết các nghiên cứu về can thiệp cho trẻ mới biết đi đều dựa trên các can thiệp hành vi, sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận và định hướng phát triển ‘tự nhiên’ hơn các can thiệp hành vi dựa trên Phân tích hành vi ứng dụng truyền thống ABA, như là những nghiên cứu bắt đầu bằng cách dạy có cấu trúc cao cho trẻ lớn hơn. Ví dụ, các biện pháp can thiệp dành cho trẻ mới biết đi được phát triển gần đây thường được thực hiện trong bối cảnh xã hội tương tác và tự nhiên, như là chơi và các thói quen hàng ngày, ngay từ đầu và liên quan đến các chiến lược dạy học hướng đến trẻ em, như là sử dụng vật phẩm mà trẻ yêu thích. 3 thành phần cốt lõi của phương pháp tiếp cận này là: tính tự nhiên của các mục tiêu can thiệp; bối cảnh mà các biện các biện pháp can thiệp được thực hiện; và các chiến lược hướng dẫn. Trong đó các kỹ năng thường không được dạy một cách riêng lẻ, mà là trong quá trình trải nghiệm tương tác và thói quen hàng ngày điển hình của trẻ, với nhiều vật phẩm và bởi nhiều người. Các hoạt động tương tác giữa người lớn và trẻ em được chuyển đổi thành các thói quen chơi có động lực hoặc hoạt động cuộc sống gia đình hàng ngày. Trong một thiết lập bối cảnh, một loạt các hành động đơn giản nên được kết hợp với nhau. Ví dụ, một thói quen nghịch ngợm liên quan đến việc mặc áo của trẻ, trong quá trình thay quần áo, có thể được mở rộng, để bao gồm xây dựng kỹ năng ngôn ngữ hiểu cũng như bình luận xã hội. Trẻ có thể được hướng dẫn làm theo chỉ dẫn để ‘lấy áo của con’, trong đó trẻ phải chọn áo từ một loạt các quần áo khác. Sau đó trẻ được khuyến khích cho chị gái xem ‘áo đỏ’ của mình, bằng cách nói ‘nhìn này áo sơ mi đỏ của em’, được nhắc nhở khi cần thiết bằng cách kết hợp các chiến lược hành vi như làm mẫu, định hình xâu chuỗi nhắc nhở, và củng cố sự khác biệt. Người lớn hỗ trợ trẻ mở rộng ngôn ngữ, mức độ phức tạp của hành vi chơi, nhu cầu xã hội hoặc một số chuỗi hành động trong các thói quen khi trẻ làm chủ được các cấp độ đơn giản hơn. Một số Chiến lược dạy học theo chủ nghĩa tự nhiên bao gồm JASPER, ESDM, SCERTS, PRT… (Schreibman và cộng sự, 2015).