Bị tử vong

Trong chương trình năm 3 cho sinh viên Y khoa, tôi có thiết kế một phần “kĩ năng giao tiếp thày thuốc- bệnh nhân trong môi trường bệnh viện”, như là một phần thực hành. Thiết kế này dựa theo chương trình “tiền lâm sàng” đã được Đại học Y Hà nội xây dựng. Tôi chỉ học theo. Tuy nhiên, người soạn thảo phần này, theo tôi, viết khá tệ, vì thiếu các nguyên lý cơ bản về giao tiếp. Giao tiếp, trước hết là một chức năng tâm lý xã hội của con người. Vì thế, trước khi nói xem một giao tiếp đặc thù trong một môi trường đặc biệt, thì các nguyên lý giao tiếp cơ bản phải được xem xét.

Một vấn đề nữa, một mẫu giao tiếp cơ bản được dặt ra là “thông báo tin xấu”. Chủ đề này khá khó khăn với các bạn trẻ, phần lớn ở độ tuổi 20. Sau 3 năm xây dựng chủ đề này, tôi nhận thấy, các bạn trẻ rất hay để các hình dung của mình bay theo các kịch bản sân khấu, trong đó mâu thuẫn bị đẩy lên cao trào. Nhưng điều mà bác sĩ đối diện trong mẫu giao tiếp này thật ra không như vậy. Vì thế, tôi chọn dịch một đoạn tản văn trong “Bị tử vong” của tác giả ATUL GAWANDE, để minh họa cho điều này.

ATUL GAWANDE là tác giả của ba cuốn sách bán chạy nhất: Complications, lọt vào chung kết Giải thưởng Sách Quốc gia; Better, được Amazon.com bình chọn là một trong mười cuốn sách hay nhất năm 2007; và The Checklist Manifesto. Ông là một bác sĩ phẫu thuật tại Bệnh viện Brigham and Women’s ở Boston, một cây bút cộng tác cho tờ New Yorker, và là một giáo sư tại Trường Y Harvard và Trường Y tế Công cộng Harvard. Ông đã giành được Giải thưởng Lewis Thomas cho Viết về Khoa học, Học bổng MacArthur và hai Giải Tạp chí Quốc gia. Trong công việc của mình ở lĩnh vực y tế cộng đồng, ông là giám đốc của Ariadne Labs, một trung tâm chung về đổi mới hệ thống y tế và là chủ tịch của Lifebox, một tổ chức phi lợi nhuận giúp phẫu thuật an toàn hơn trên toàn cầu. Vào năm 2014, Gawande đã đưa ra loạt bài giảng trên Radio 4 Reith, mang tên ‘Tương lai của y học’, dựa trên “Bị tử vong”. Ông và vợ có ba người con và sống ở Newton, Massachusetts.

Sau đây là đoạn trích:

Tôi đã học về rất nhiều điều trong trường y, nhưng tử vong không phải là một trong số đó. Mặc dù tôi đã được đưa cho một cái xác khô, còn da, để mổ xẻ trong học kỳ đầu tiên của mình, thì đó chỉ là một cách để tìm hiểu về giải phẫu con người. Sách giáo khoa của chúng tôi hầu như không có gì về sự già nua, yếu ớt hay chết chóc. Quá trình diễn ra như thế nào, mọi người trải qua giai đoạn cuối cuộc đời như thế nào và nó ảnh hưởng như thế nào đến những người xung quanh họ, họ dường như ở bên lề. Cách chúng tôi nhìn thấy cái chết, và cách các giáo sư của chúng tôi nhìn thấy nó, mục đích của việc học ở trường y là để dạy cách cứu sống, chứ không phải làm thế nào để có xu hướng chết.

Lần duy nhất tôi nhớ thảo luận về tỷ lệ tử vong là trong một giờ chúng tôi dành cho Cái chết của Ivan Ilyich, cuốn tiểu thuyết kinh điển của Tolstoy. Đó là trong một cuộc hội thảo hàng tuần có tên Bệnh nhân-Bác sĩ — một phần trong nỗ lực của trường nhằm làm cho chúng tôi trở thành những bác sĩ nhân văn và tròn trịa hơn. Một số tuần, chúng tôi sẽ thực hành thủ thuật khám bệnh của mình; các tuần khác, chúng tôi sẽ tìm hiểu về tác động của kinh tế xã hội và chủng tộc đối với sức khỏe. Và một buổi chiều nọ, chúng tôi chiêm ngưỡng sự đau khổ của Ivan Ilyich khi anh ấy phải nằm vì bệnh và ngày càng nặng vì một số căn bệnh không có tên, không thể chữa trị.

Trong truyện, Ivan Ilyich bốn mươi lăm tuổi, một quan tòa cấp trung của Saint Petersburg có cuộc sống chủ yếu xoay quanh những mối quan tâm vụn vặt về địa vị xã hội. Một ngày nọ, anh ta bị ngã khỏi một cái thang và bị đau ở bên hông. Thay vì giảm bớt, cơn đau trở nên tồi tệ hơn và anh ta không thể làm việc. Trước đây là một “người đàn ông thông minh, bóng bẩy, sôi nổi và dễ mến,” anh ta trở nên chán nản và tự ti. Bạn bè và đồng nghiệp tránh anh ta. Vợ anh ta gọi một loạt bác sĩ đắt hơn bao giờ hết. Không ai trong số họ có thể đồng ý về một chẩn đoán, và các biện pháp khắc phục mà họ đưa cho anh ta không đạt được kết quả gì. Đối với Ilyich, tất cả chỉ là một sự tra tấn, và anh ta tức giận và tức giận với hoàn cảnh của mình.

“Điều khiến Ivan Ilyich dày vò nhất,” Tolstoy viết, “là sự lừa dối, dối trá, mà vì một lý do nào đó, tất cả họ đều chấp nhận, rằng anh ta không chết mà chỉ đơn giản là bị bệnh, và anh ta chỉ cần giữ im lặng và trải qua một cuộc điều trị và sau đó là điều gì đó kết quả rất tốt. ” Ivan Ilyich có những tia hy vọng rằng có thể mọi thứ sẽ xoay chuyển, nhưng khi anh ta ngày càng yếu đi và gầy mòn hơn, anh ta biết điều gì đang xảy ra. Anh ta sống trong nỗi thống khổ và nỗi sợ hãi cái chết. Nhưng cái chết không phải là chủ đề mà bác sĩ, bạn bè hoặc gia đình của anh ta có thể quan tâm. Đó là nguyên nhân gây ra nỗi đau sâu sắc nhất cho anh ấy.

Tolstoy viết: “Không ai thương hại anh ta như anh ta muốn được thương hại. “Vào những khoảnh khắc nhất định sau khi đau khổ kéo dài, anh ấy ước nhất (mặc dù anh ấy sẽ xấu hổ khi thú nhận điều đó) để ai đó thương hại anh ấy như một đứa trẻ bệnh tật đáng thương. Anh khao khát được vỗ về, vỗ về. Anh ấy biết anh ấy là một viên chức quan trọng, rằng anh ấy có bộ râu chuyển màu xám rất đẹp, và do đó điều anh ấy mong ước là không thể, nhưng anh ấy vẫn khao khát nó. “

Như các sinh viên y khoa chúng ta đã thấy, việc những người xung quanh Ivan Ilyich không thể an ủi hoặc thừa nhận những gì đang xảy ra với anh ta là một sự thất bại về tư cách và văn hóa. Nước Nga cuối thế kỷ 19 trong câu chuyện của Tolstoy có vẻ khắc nghiệt và gần như nguyên thủy đối với chúng ta. Cũng như chúng tôi tin rằng y học hiện đại có thể chữa khỏi cho Ivan Ilyich bất cứ căn bệnh nào mà anh ấy mắc phải, vì vậy chúng tôi cũng coi như sự trung thực và tử tế là những trách nhiệm cơ bản của một bác sĩ hiện đại. Chúng tôi tin tưởng rằng trong tình huống như vậy chúng tôi sẽ hành động từ bi.

Điều khiến chúng tôi lo lắng là kiến ​​thức. Mặc dù chúng tôi biết cách thông cảm, nhưng chúng tôi không chắc chắn rằng chúng tôi sẽ biết cách chẩn đoán và điều trị đúng cách. Chúng tôi đã trả học phí y khoa của mình để tìm hiểu về quá trình bên trong cơ thể, các cơ chế phức tạp của các bệnh lý của nó, và vô số khám phá và công nghệ đã tích lũy để ngăn chặn chúng. Chúng tôi không nghĩ rằng chúng tôi cần phải suy nghĩ về nhiều thứ khác. Vì vậy, chúng tôi loại bỏ Ivan Ilyich ra khỏi đầu của chúng tôi.

Tuy nhiên, trong vòng vài năm, khi tôi trải nghiệm quá trình đào tạo và thực hành phẫu thuật, tôi đã gặp phải những bệnh nhân, và buộc phải đối mặt với thực tế suy yếu và tử vong, và không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng tôi đã không thể giúp họ theo một cách nào đó.

Tôi BẮT ĐẦU VIẾT khi tôi còn là một bác sĩ ngoại khoa mới vào nghề, và trong một trong những bài tiểu luận đầu tiên của tôi, tôi đã kể câu chuyện về một người đàn ông mà tôi gọi là Joseph Lazaroff. Ông ta là một quản lý thành phố, người đã mất vợ vì bệnh ung thư phổi vài năm trước đó. Bây giờ, ông đã ngoài sáu mươi và bản thân mắc một căn bệnh ung thư không thể chữa khỏi – một căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt di căn rộng. Ông ấy đã giảm hơn năm mươi cân. Bụng, bìu và chân của ông chứa đầy dịch. Một ngày nọ, ông thức dậy, không thể cử động chân hoặc tự đi vệ sinh. Ông ấy nhập viện, nơi tôi gặp ông ấy, khi đang là bác sĩ thực tập trong tổ phẫu thuật thần kinh. Chúng tôi phát hiện ra rằng ung thư đã di căn đến cột sống ngực của ông, nơi nó đang chèn ép tủy sống. Bệnh ung thư không thể chữa khỏi, nhưng chúng tôi hy vọng nó có thể được điều trị. Tuy nhiên, bức xạ cấp đã không thể thu nhỏ khối ung thư, và vì vậy bác sĩ giải phẫu thần kinh đưa ra cho ông hai lựa chọn: chăm sóc giảm nhẹ hoặc phẫu thuật để loại bỏ khối u đang phát triển khỏi cột sống của anh ta. Lazaroff đã chọn phẫu thuật. Công việc của tôi, với tư cách là bác sĩ thực tập của dịch vụ phẫu thuật thần kinh, là nhận được xác nhận bằng văn bản của ông rằng ông ta hiểu những rủi ro của phẫu thuật và muốn được mổ.

Tôi đã đứng bên ngoài phòng ông ấy, trên bàn tay ẩm ướt của tôi là bệnh án của ông, cố gắng tìm cách để tìm hiểu chủ đề này với ông ấy. Hy vọng rằng cuộc phẫu thuật sẽ ngăn chặn sự tiến triển của tổn thương tủy sống của ông. Nó sẽ không thể chữa khỏi, hoặc đảo ngược tình trạng tê liệt, hoặc đưa ông trở lại cuộc sống mà ông đã có. Dù chúng tôi có làm gì thì ông ấy cũng chỉ còn sống được vài tháng nữa, và thủ tục này vốn dĩ rất nguy hiểm. Nó đòi hỏi phải mở lồng ngực, cắt bỏ một xương sườn và làm xẹp phổi để lấy xương sống. Mất máu sẽ nhiều. Việc phục hồi sẽ rất khó khăn. Trong tình trạng suy nhược của mình, ông ta phải đối mặt với những nguy cơ đáng kể về các biến chứng sau đó. Cuộc phẫu thuật đe dọa cả việc làm xấu đi và rút ngắn mạng sống của ông. Nhưng bác sĩ giải phẫu thần kinh có thể vượt qua những nguy hiểm này, và Lazaroff đã rõ ràng rằng anh ta muốn phẫu thuật. Tất cả những gì tôi phải làm là đi vào và lo các thủ tục giấy tờ.

Nằm trên giường, Lazaroff trông xám xịt và hốc hác. Tôi nói rằng tôi là một bác sĩ thực tập và tôi sẽ đến để được ông ấy đồng ý phẫu thuật, điều này yêu cầu xác nhận rằng ông nhận thức được những rủi ro. Tôi nói rằng ca phẫu thuật có thể loại bỏ khối u nhưng để lại cho ông những biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như liệt hoặc đột quỵ, và thậm chí nó có thể gây tử vong. Tôi cố gắng nói rõ ràng, không gay gắt, nhưng cuộc thảo luận của tôi đã khiến ông ấy ủng hộ. Tương tự như vậy, khi con trai ông, người đang ở trong phòng, đặt câu hỏi liệu các biện pháp tích cực có phải là một ý kiến tốt không. Lazaroff không thích ý kiến đó chút nào.

“Bạn đừng từ bỏ tôi,” ông ấy nói. “Bạn cho tôi mọi cơ hội mà tôi có thể có.” Bên ngoài phòng, sau khi ông ký vào đơn, người con trai đưa tôi sang một bên cửa. Mẹ của anh đã chết trên máy thở trong phòng chăm sóc đặc biệt, và vào thời điểm đó cha anh nói rằng ông không muốn bất cứ điều gì tương tự xảy ra với mình. Nhưng bây giờ ông ấy đã cương quyết làm “mọi thứ”.

Khi đó tôi tin rằng ông Lazaroff đã chọn sai, và tôi vẫn tin điều này. Ông ấy đã chọn một cách tồi tệ không phải vì tất cả những nguy hiểm, mà vì cuộc phẫu thuật không có cơ hội mang lại cho ông ấy những gì anh ấy thực sự muốn: sự ổn định của ông ấy, sức mạnh của ông ấy, cuộc sống mà ông ấy đã biết trước đây. Ông đang theo đuổi chỉ là một thứ tưởng tượng với nguy cơ một cái chết kéo dài và khủng khiếp – đó chính xác là những gì ông nhận được.

Ca mổ thành công về mặt kỹ thuật. Hơn 8 tiếng rưỡi, nhóm phẫu thuật đã loại bỏ khối xâm lấn vào cột sống của ông và dựng lại thân đốt sống bằng xi măng acrylic. Áp lực lên tủy sống của anh ấy đã biến mất. Nhưng ông không bao giờ hồi phục sau đó. Trong quá trình chăm sóc đặc biệt, ông bị suy hô hấp, nhiễm trùng huyết, tụ máu do bất động, sau đó chảy máu do dùng thuốc chống đông để điều trị. Mỗi ngày, chúng tôi càng tụt lại phía sau. Cuối cùng chúng tôi phải thừa nhận rằng ông ấy sắp chết. Vào ngày thứ mười bốn, con trai ông ấy nói với cả nhóm rằng chúng ta nên dừng lại.

Tôi đã quyết định đưa Lazaroff ra khỏi chiếc máy thở nhân tạo đang giữ cho ông sống sót. Tôi đã kiểm tra để đảm bảo rằng nhỏ giọt morphin của ông ấy đã được bật, vì vậy ông ấy sẽ không cảm thấy bị đói không khí. Tôi ghé sát vào và, trong trường hợp ông có thể nghe thấy tôi, nói rằng tôi sẽ lấy ống thở ra khỏi miệng ông. Ông ho vài lần khi tôi kéo nó ra, mở mắt và nhắm lại. Hơi thở của ông trở nên nặng nhọc, rồi ngừng lại. Tôi đặt ống nghe của mình lên ngực và nghe tim ông ấy như nhói đi.

Bây giờ, hơn một thập kỷ sau khi tôi lần đầu tiên kể câu chuyện của ông Lazaroff, điều khiến tôi kinh ngạc nhất không phải là quyết định của ông ấy tồi tệ đến mức nào mà là tất cả chúng ta đều tránh nói một cách thành thật về sự lựa chọn trước mặt ông ấy. Chúng tôi không gặp khó khăn gì khi giải thích những nguy hiểm cụ thể của các phương pháp điều trị khác nhau, nhưng chúng tôi chưa bao giờ thực sự chạm vào thực tế căn bệnh của ông ấy. Các bác sĩ chuyên khoa ung thư, xạ trị, bác sĩ phẫu thuật và các bác sĩ khác của ông đều đã gặp ông qua nhiều tháng điều trị cho một vấn đề mà họ biết rằng không thể chữa khỏi. Chúng tôi không bao giờ có thể thảo luận về sự thật lớn hơn về tình trạng của anh ấy hoặc giới hạn cuối cùng của khả năng của chúng tôi, chứ đừng nói đến điều gì có thể quan trọng nhất đối với ông ấy khi ông gần kết thúc cuộc đời. Nếu ông ấy đang theo đuổi một sự si mê, thì chúng ta cũng vậy. Tại đó, ông nằm trong bệnh viện, bị liệt một phần do căn bệnh ung thư di căn khắp cơ thể. Cơ hội để ông có thể trở lại bất cứ điều gì giống như cuộc sống mà ông ta đã có vài tuần trước đó là bằng không. Nhưng thừa nhận điều này và giúp ông ấy đối phó với nó dường như nằm ngoài chúng ta. Chúng tôi không cung cấp sự thừa nhận hoặc an ủi hoặc hướng dẫn. Chúng tôi vừa có một cuộc điều trị mà ông ấy trải qua. Có thể một cái gì đó rất tốt sẽ có kết quả.

Chúng tôi đã làm tốt hơn một chút so với các bác sĩ nguyên thủy ở thế kỷ 19 của Ivan Ilyich — thực ra, tệ hơn nữa là đưa ra những hình thức tra tấn thể chất mới mà chúng tôi đã gây ra cho bệnh nhân của mình. Nó đủ để khiến bạn tự hỏi, những người nguyên thủy là ai.

NĂNG LỰC KHOA HỌC HIỆN ĐẠI đã làm thay đổi sâu sắc quá trình sống của con người. Con người sống lâu hơn và tốt hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử. Nhưng những tiến bộ khoa học đã biến quá trình lão hóa và chết đi thành những trải nghiệm y tế, những vấn đề cần được quản lý bởi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Và chúng tôi trong thế giới y tế đã chứng minh là không chuẩn bị cho nó, một cách đáng báo động.

Thực tế này phần lớn đã bị che giấu, khi giai đoạn cuối của cuộc đời trở nên ít quen thuộc hơn đối với mọi người. Gần đây nhất là năm 1945, hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra trong nhà. Đến những năm 1980, chỉ có 17%. Những người bằng cách nào đó đã chết tại nhà, có thể đã chết quá đột ngột trước khi có thể đến bệnh viện — chẳng hạn như do một cơn đau tim, đột quỵ, hoặc chấn thương dữ dội — hoặc quá cô lập để đến một nơi nào đó có thể giúp đỡ. Trên khắp không chỉ Hoa Kỳ mà còn toàn bộ thế giới công nghiệp hóa, trải nghiệm của sự lão hóa và cái chết tiên tiến đã chuyển sang các bệnh viện và viện dưỡng lão.

Khi tôi trở thành một bác sĩ, tôi vượt qua bên kia cánh cửa bệnh viện và, mặc dù tôi đã lớn lên với hai bác sĩ là cha mẹ tôi, mọi thứ tôi thấy đều mới mẻ đối với tôi. Tôi chắc chắn chưa từng thấy ai chết trước đây và khi tôi thấy chuyện này, thực sự là một cú sốc. Đó không phải là vì nó khiến tôi nghĩ đến cái chết của chính mình. Bằng cách nào đó, khái niệm này đã không xảy ra với tôi, ngay cả khi tôi chứng kiến ​​những người cùng tuổi với mình chết. Tôi ở trong một chiếc áo blouse trắng; còn họ ở trong chiếc áo choàng bệnh nhân. Tôi không thể hình dung nó theo cách khác. Tuy nhiên, tôi có thể hình dung gia đình mình ở vào nơi họ ở. Tôi đã thấy nhiều thành viên trong gia đình — vợ tôi, cha mẹ tôi và các con tôi — trải qua những căn bệnh nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng. Ngay cả trong những hoàn cảnh tồi tệ, y học vẫn luôn giúp họ vượt qua. Do đó, tôi bị sốc khi thấy điều trị không thể kéo mọi người vượt qua. Về lý thuyết, tôi biết rằng bệnh nhân của tôi có thể chết, tất nhiên, nhưng mọi trường hợp, thực tế đều có vẻ như một vi phạm, như thể các quy tắc mà tôi nghĩ rằng chúng tôi đang chơi đã bị phá vỡ. Tôi không biết mình nghĩ đây là trò chơi gì, nhưng trong trận đấu đó, chúng tôi luôn thắng.

Cái chết và sự đối diện cái chết xảy ra với mỗi bác sĩ và y tá mới. Những lần đầu tiên, một số người khóc. Một số ở sau cánh cửa. Một số hầu như không nhận thấy điều gì. Khi tôi nhìn thấy những cái chết đầu tiên, tôi đã hết sức đề phòng để không khóc. Nhưng tôi đã mơ về chúng. Tôi đã có những cơn ác mộng lặp đi lặp lại khi tôi tìm thấy xác bệnh nhân trong nhà của mình — trên giường của chính tôi.

Tất nhiên, cái chết không phải là một thất bại. Chết là bình thường. Cái chết có thể là kẻ thù, nhưng nó cũng là trật tự tự nhiên của mọi thứ. Tôi biết những sự thật này một cách trừu tượng, nhưng tôi không biết chúng một cách cụ thể — rằng chúng có thể là sự thật không chỉ cho tất cả mọi người mà còn cho ‘người này’, ngay trước mặt tôi, cho ‘người này’ mà tôi chịu trách nhiệm.

Bác sĩ phẫu thuật quá cố Sherwin Nuland, trong cuốn sách kinh điển How We Die, đã than thở: “Sự cần thiết của chiến thắng cuối cùng theo tự nhiên đã được các thế hệ trước chúng ta mong đợi và chấp nhận. Các bác sĩ nên sẵn sàng nhận ra các dấu hiệu thất bại hơn và ít kiêu ngạo hơn khi từ chối chúng ”. Nhưng khi tôi đi trên con đường của thế kỷ XXI, được đào tạo trong việc triển khai kho công nghệ tuyệt vời của chúng tôi, tôi tự hỏi chính xác việc bớt kiêu ngạo thực sự có nghĩa là gì.

Bạn trở thành một bác sĩ cho những gì bạn tưởng tượng là sự hài lòng về công việc, và điều đó hóa ra là sự hài lòng về năng lực. Đó là một sự hài lòng sâu sắc rất giống như trải nghiệm của một người thợ mộc trong việc khôi phục một chiếc rương cổ mỏng manh hay một giáo viên khoa học trải qua khi đưa một học sinh lớp năm đến với sự nhận biết đột ngột, chuyển đổi tâm trí về nguyên tử là gì. Nó một phần đến từ việc giúp đỡ người khác. Nhưng nó cũng đến từ kỹ thuật thành thạo và khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp, khó khăn. Năng lực của bạn mang lại cho bạn cảm giác an toàn về danh tính. Vì vậy, đối với một bác sĩ lâm sàng, không gì đe dọa con người bạn hơn là một bệnh nhân với một vấn đề mà bạn không thể giải quyết.

Không thể thoát khỏi bi kịch của cuộc sống, đó là tất cả chúng ta đều già đi từ ngày chúng ta được sinh ra. Người ta thậm chí có thể hiểu và chấp nhận sự thật này. Nhưng điều đó không giống như nói rằng một người biết cách đối phó với những gì không thể sửa chữa. Tôi, trong một nghề đã thành công, vì khả năng sửa chữa của nó. Nếu sự cố của bạn có thể khắc phục được, chúng tôi biết phải làm gì. Nhưng nếu nó không? Thực tế là chúng ta không có câu trả lời thích hợp cho câu hỏi này, thật đáng lo ngại và đã gây ra sự nhẫn tâm, vô nhân đạo và đau khổ phi thường.

ĐÂY LÀ cuốn sách về trải nghiệm cái chết hiện đại — về cảm giác giống như những sinh vật già đi và chết đi, mà y học đã thay đổi trải nghiệm đó như thế nào và nó không như thế nào, nơi ý tưởng của chúng ta về cách đối phó với sự hữu hạn của chúng ta đã trở thành hiện thực Sai lầm. Khi tôi vượt qua một thập kỷ hành nghề phẫu thuật và đạt đến tuổi trung niên, tôi thấy rằng cả tôi và bệnh nhân của tôi đều không thấy tình trạng hiện tại của mình có thể chấp nhận được. Nhưng tôi cũng thấy không rõ câu trả lời nên là gì, hoặc thậm chí liệu câu trả lời thích hợp nào có thể thực hiện được hay không. Tuy nhiên, tôi có niềm tin của nhà văn và nhà khoa học rằng bằng cách kéo tấm màn che ra và quan sát kỹ, một người có thể hiểu được điều gì khó hiểu, kỳ lạ hoặc đáng lo ngại nhất.

Bạn không cần phải dành nhiều thời gian cho người già hoặc những người mắc bệnh nan y chỉ để xem tần suất điều trị vì không giúp được gì cho những người mà nó được cho là sẽ có ích. Những ngày tàn lụi trong cuộc đời của chúng ta được trao cho những phương pháp điều trị bổ sung, nhưng lại hủy hoại cơ thể chúng ta, nhằm có cơ hội hưởng lợi. Chúng được dành cho các cơ sở giáo dục – viện dưỡng lão và đơn vị chăm sóc đặc biệt – nơi những thói quen ẩn danh, tập trung, đã cắt đứt chúng ta khỏi tất cả những điều quan trọng đối với chúng ta trong cuộc sống. Việc chúng ta miễn cưỡng kiểm tra một cách trung thực trải nghiệm của sự già đi và cái chết đã làm gia tăng tác hại mà chúng ta gây ra cho mọi người và từ chối họ những tiện nghi cơ bản mà họ cần nhất. Thiếu một cái nhìn thống nhất về cách mọi người có thể sống thành công cho đến cuối cùng, chúng tôi đã để số phận của mình bị kiểm soát bởi những mệnh lệnh của y học, công nghệ và những người xa lạ.

Tử vong có thể là một chủ đề nguy hiểm. Một số người sẽ hoảng sợ trước viễn cảnh một bác sĩ viết về tính không thể tránh khỏi của sự suy sụp và cái chết. Đối với nhiều người, cuộc nói chuyện như vậy, dù được đóng khung cẩn thận đến đâu, cũng làm dấy lên bóng ma về một xã hội sẵn sàng hy sinh bản thân cho bệnh tật và tuổi già. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu những người bệnh và người già đã bị hy sinh – những nạn nhân của việc chúng ta từ chối chấp nhận sự bất khả kháng của vòng đời mình? Và điều gì sẽ xảy ra nếu có những cách tiếp cận tốt hơn, ngay trước mắt chúng ta, đang chờ được công nhận?

Vị thành niên- bài 4

Bài 4: Chấp nhận rủi ro, hành vi chống đối xã hội và phạm pháp

Rủi ro được định nghĩa trong Từ điển tiếng Anh Thế giới Encarta là sự nguy hiểm mà thương tích, thiệt hại hoặc mất mát sẽ xảy ra. Các hành vi rủi ro thường gặp ở lứa tuổi vị thành niên. Các loại rủi ro phổ biến là hành vi hung hăng và bạo lực, lái xe liều lĩnh, quan hệ tình dục thông thường và không an toàn, sử dụng ma túy và các hành vi online nhiều nguy cơ. Hậu quả của những hành vi đó có thể do cá nhân đó phải gánh chịu, và / hoặc có thể do người khác gánh chịu. Một loại tương tự là hành vi liều lĩnh, nghĩa là hành vi được thực hiện mà không quan tâm rõ ràng đến hậu quả.

Hành vi chống đối xã hội có thể được định nghĩa là gây phiền nhiễu, thiếu cân nhắc, hoặc thờ ơ với sự thoải mái hoặc nhu cầu của người xung quanh, hoặc đối với toàn xã hội (Encarta). Các ví dụ phổ biến là vẽ bậy, phá hoại, trộm cắp vặt và đua xe. Ở đây, tác hại sẽ ở trên những người khác, mặc dù một số hành vi chống đối xã hội có nguy cơ khiến người chống đối xã hội có thể bị trừng phạt. Điều này đặc biệt xảy ra với hành vi phạm pháp, được định nghĩa là hành vi hoặc hành động, mang tính chống đối xã hội hoặc bất hợp pháp, đặc biệt là của những người trẻ tuổi (Encarta). Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng một định nghĩa hẹp hơn về phạm pháp là hành vi phạm pháp hoặc tội phạm, chẳng hạn như ăn cắp, hành hung, sử dụng ma túy bất hợp pháp hoặc quan hệ tình dục sớm. Tuy nhiên, những người khác thích định nghĩa rộng hơn của phạm pháp là hành vi chống đối xã hội hoặc có vấn đề. Với các báo cáo thống kê hành vi, bạn đọc cần xem xét quan điểm của nhà nghiên cứu để có hình dung tốt về các con số.

Tỷ lệ hành vi rủi ro và thay đổi trong các độ tuổi

Không nghi ngờ gì, một số loại hành vi chống đối xã hội hoặc hành vi chấp nhận rủi ro khá phổ biến ở tuổi vị thành niên. Do đó, ít nhất một số trẻ tham gia hạn chế hoặc nhỏ vào các hành vi chống đối xã hội có thể được coi là một đặc điểm phổ biến nếu không muốn nói là chuẩn mực của tuổi vị thành niên. Bạn đọc dễ dàng tìm thấy các con số thống kê trong nhiều tài liệu sẵn có trên mạng, nên tôi sẽ không đưa thêm nhiều dữ liệu mà chỉ đề cập đến những con số minh họa khía cạnh tâm lý học trong vấn đề này.

Tuy nhiên, các loại hành vi chống đối xã hội khác nhau cho thấy những quỹ đạo khác nhau. Các hành vi gây hậu quả mà người khác gánh chịu cho thấy sự suy giảm từ 14 đến 16 tuổi. Có vẻ như khoảng 14 tuổi là cao điểm đối với nhiều trẻ có thể có các loại hành vi chống đối xã hội nhỏ. Tuy nhiên, hút thuốc và uống rượu bia- là hành vi gây hậu quả bản thân gánh chịu, cho thấy sự gia tăng đáng kể từ 14 lên 16 tuổi và hơn nữa – có lẽ vì thuốc lá và đồ uống có cồn trở nên dễ dàng sử dụng hơn ở lứa tuổi lớn hơn. Tất nhiên, một vài năm sau, nhiều người trưởng thành hút thuốc và uống rượu hoàn toàn hợp pháp, và những hành vi này chỉ có thể được coi là hành vi nguy cơ trong một số trường hợp nhất định (ví dụ: mang thai) hoặc nếu quá mức.

Từ 14 tuổi trở đi, việc đánh nhau suy giảm. 

Khác biệt theo giới

Nói chung, nam giới thường tham gia vào các hành vi rủi ro và chống đối xã hội nhiều hơn nữ giới. Một phân tích tổng hợp của 150 nghiên cứu về việc chấp nhận rủi ro, báo cáo sự khác biệt về giới tính, cho thấy rằng ở hầu hết các hạng mục và ở hầu hết các độ tuổi, nam đạt điểm cao hơn. Tuy nhiên, nữ có điểm số về hút thuốc ở tuổi vị thành niên cao hơn một chút, và không có nhiều sự khác biệt về giới trong việc uống rượu hoặc sử dụng các loại ma túy khác. Đây là các nghiên cứu tại Anh.

Những thay đổi lịch sử

Các cuộc khảo sát YRBS ở Hoa Kỳ đã được thực hiện hàng năm kể từ năm 1991, và chúng đưa ra một bức tranh chi tiết về những thay đổi kể từ đó. Bức tranh nhìn chung là tích cực cho đến nay khi nhiều hành vi chấp nhận rủi ro được quan tâm. Tỷ lệ đánh nhau và mang vũ khí đã giảm – mặc dù tỷ lệ mang vũ khí đã chững lại trong những năm gần đây. Tỷ lệ sử dụng thuốc lá, rượu và cần sa cũng đã giảm trong hầu hết thời kỳ này.

Tình hình ở Việt Nam

Theo một báo cáo tóm tắt của Unicef năm 2018 về sức khỏe tâm thần và tâm lý của trẻ em và thanh niên tại một số tình và thành phố (bao gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Điện Biên và An Giang) thì không thấy nhắc đến việc xem xét các hành vi rủi ro này.

Nhưng trong ‘Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam’ (2019) được thực hiện nhằm đánh giá những thay đổi trong hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTNVPPL) trong giai đoạn 2006-2018, thì có cung cấp một số dữ liệu. Có lẽ vì đây là báo cáo pháp luật nên dữ liệu chủ yếu đề cập đến các hành vi gây hậu quả người khác gánh chịu, ở mức độ nghiêm trọng. Trong số 10 tội danh phổ biến nhất do NCTN thực hiện, trừ các tội trộm cắp và tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng, số bị can chưa thành niên bị khởi tố về các tội danh còn lại đều giảm, giữ ở mức ổn định, hoặc tăng không đáng kể.
Khoảng 96% NCTNVPPL là nam. Đa số NCTNVPPL thuộc nhóm tuổi 16 đến dưới 18. Trái với những nhận định từ các phương tiện thông tin đại chúng và nhiều diễn đàn cho rằng NCTNVPPL ngày càng trẻ hóa, số NCTNVPPL dưới 14 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ và có xu hướng giảm từ gần 9% vào năm 2006 xuống còn gần 5% vào năm 2018. Đa số NCTNVPPL là vi phạm lần đầu. 

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro, hành vi chống đối xã hội và phạm pháp

Mặc dù các hành vi chống đối xã hội nhỏ hoặc không thường xuyên có thể thường xuyên xảy ra ở tuổi vị thành niên, nhưng không phải tất cả trẻ vị thành niên đều tham gia và nhiều trẻ tham gia nhưng rất ít. Chỉ có một tỷ lệ tương đối nhỏ thanh niên tham gia nhiều, khoảng 12% trong độ tuổi thanh thiếu niên, đã tham gia vào ba hành vi hoặc nhiều hơn (theo một số nghiên cứu tại Anh).

Ngoài độ tuổi và giới tính, nhiều nghiên cứu đã xem xét những yếu tố nguy cơ nào có thể liên quan để giải thích tại sao một số người trẻ tuổi lại tham gia nhiều hơn những người khác. Ví dụ, nghiên cứu của Cambridge về các cậu bé ở London đã báo cáo về các yếu tố nguy cơ phạm pháp. Bảy yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất từ ​​thời thơ ấu của tình trạng phạm pháp nhiều lần ở tuổi vị thành niên là: phiền hà ở trường học; hiếu động thái quá / kém tập trung; trí tuệ thấp và kém; tội phạm gia đình; gia đình nghèo khó; và việc nuôi dạy con cái nghèo nàn của cha mẹ. Tuy nhiên, nếu gia đình chuyển ra khỏi London, việc di chuyển này được coi là một yếu tố bảo vệ!

Một nghiên cứu đã xác định mối quan hệ không tốt với cha mẹ, sống trong một gia đình chỉ có cha mẹ, có thái độ tiêu cực với trường học, kết giao với các bạn cùng trang lứa có thái độ tương tự và bị bắt nạt là những yếu tố nguy cơ cho cả hành vi nguy cơ gây hậu quả bên ngoài và bên trong. Nghiên cứu này cũng xác định một số yếu tố bảo vệ có liên quan đến khả năng thấp hơn các hành vi nguy cơ mà họ gọi là các hoạt động phát triển bản thân. Chúng bao gồm chơi một nhạc cụ, làm công việc cộng đồng, tham gia các lớp học tôn giáo và đọc sách để giải trí.

Có rất nhiều sự nhất quán trong các báo cáo khác nhau này. Lý thuyết kiểm soát xã hội, được phát triển bởi Travis Hirschi, lập luận rằng hành vi chống đối xã hội ít xảy ra hơn khi người trẻ có quyền tham gia vào các tổ chức xã hội như gia đình, trường học hoặc các câu lạc bộ và xã hội. Một số ràng buộc hoặc cam kết với các nhóm này hoạt động như một biện pháp kiểm soát sự cám dỗ để thực hiện các hành vi nguy hiểm hoặc phạm pháp.

Đặc biệt, việc nuôi dạy con cái và các yếu tố gia đình đã liên quan đến nhiều nghiên cứu về hành vi phạm pháp. Ví dụ, một nghiên cứu dọc hơn 400 cậu bé người Canada gốc Pháp ở Montreal đã xem xét tác động của quá trình chuyển đổi gia đình đối với sự phát triển của hành vi phạm pháp từ 12 đến 15 tuổi. Họ đặc biệt xem xét những tác động của ly hôn và tái hôn, so sánh những trường hợp xảy ra khi cậu bé 6-11 tuổi và những trường hợp cậu bé 12-15 tuổi. Họ không thấy ly hôn có ảnh hưởng chính đến việc phạm pháp. Tuy nhiên, họ đã phát hiện ra rằng trẻ em trai trong các gia đình tái hôn trong độ tuổi 12–15 có nhiều khả năng trở nên phạm pháp hơn. Những cậu bé này cho rằng cha mẹ ít biểu đạt và ít giám sát hành vi của chúng hơn. Bên cạnh sự thiếu giám sát của cha mẹ, các yếu tố dự báo khác của hành vi phạm pháp là nghèo đói và thất bại trong học tập. Trong thực hành lâm sàng ở Việt Nam, tôi nhận thấy nhiều xung đột xảy ra lại là do cha mẹ ứng xử theo phong cách ‘làm bạn với con’ thái quá, dẫn đến sự thiếu vắng giám sát. Khi cha mẹ nhận ra, sự giám sát trở lại gặp nhiều khó khăn.

Như vậy, sự giám sát của cha mẹ và giám sát hành vi có vẻ quan trọng, nhưng nó cần được thực hiện một cách tế nhị. Hai quan điểm lý thuyết cho rằng một số loại hành vi của cha mẹ có thể làm trầm trọng thêm các hành vi chống đối xã hội. Lý thuyết phản ứng tâm lý cho rằng những cấm đoán mang tính giáo điều và những quy tắc hạn chế về hành vi có thể dẫn đến sự tức giận và từ chối quyền lực, tạo ra một loại hiệu ứng boomerang. Tương tự, lý thuyết tự quyết lập luận rằng quyền tự chủ được coi trọng mạnh mẽ và nếu điều này bị thất vọng, nó có thể dẫn đến sự tức giận và bất chấp chống đối. Một loạt các nghiên cứu ở Hà Lan đã tìm thấy bằng chứng xác thực rằng việc nuôi dạy con cái rất kiểm soát và không cho phản ứng đã thực sự dự đoán các hành vi như vi phạm quy tắc, đánh nhau và ăn cắp ở tuổi vị thành niên.

Tuy nhiên, một yếu tố nguy cơ phổ biến khác là có mối quan hệ với những người bạn phạm tội. Với văn hóa Việt Nam, nhận thức này không xa lạ, thường được giáo dục sớm trong gia đình. Tuy nhiên, vẫn không phải là lúc nào cũng thành công. Một yếu tố có thể có tác dụng trong việc hiểu được tác động của những trẻ chống đối xã hội hoặc phạm pháp là lý thuyết nâng cao địa vị và danh tiếng. Địa vị trong nhóm đồng lứa rất quan trọng đối với trẻ, như đã nói ở bài trước. Lý thuyết nâng cao danh tiếng lập luận rằng tham gia vào các hoạt động phù hợp với thái độ và giá trị của nhóm đồng lứa có khả năng nâng cao vị thế của bạn trong nhóm đó. Đối với các nhóm không phạm pháp, hành vi chống đối xã hội có thể được coi là gây rắc rối và là lý do để từ chối hoặc loại trừ. Tuy nhiên, một nhóm phạm pháp sẽ có các giá trị khá khác. Để nâng cao vị thế của bạn trong một nhóm như vậy, bạn không chỉ tham gia vào các hoạt động chống đối xã hội mà còn có lợi cho việc khởi xướng chúng và thể hiện rằng bạn táo bạo hơn những người khác. Nói tóm lại, hành vi chống đối xã hội có thể là lý do để loại trừ ở một số nhóm đồng lứa, nhưng là lý do để hòa nhập vào những nhóm khác.

Hành vi nguy cơ online

Internet đã cho phép một khu vực trải nghiệm mới, trong đó các loại hành vi nguy cơ khác với hành vi offline có thể được thực hiện. Tuy nhiên, các yếu tố tương tự xung quanh mối quan hệ cha mẹ và bạn bè đồng trang lứa dường như cũng hiện hữu trong lĩnh vực này. Một nghiên cứu ở Singapore với trẻ 13-14 tuổi đã kiểm tra rủi ro tiếp xúc và rủi ro về quyền riêng tư trên các trang mạng xã hội. Rủi ro liên hệ được đánh giá khi thêm những người mà họ chưa từng gặp vào danh sách bạn bè của họ. Việc cha mẹ cố gắng sử dụng các phương pháp kiểm soát hạn chế đã phản tác dụng trong việc giảm thiểu rủi ro, trong khi các chiến thuật dựa trên thảo luận lại giúp giảm thiểu rủi ro khi tiếp xúc. Tuy nhiên, thảo luận với các đồng nghiệp dường như làm tăng rủi ro về quyền riêng tư. Một nghiên cứu khác ở Singapore về trẻ vị thành niên phạm tội trong độ tuổi 13-18 đang được tư vấn hoặc phục hồi chức năng. Hầu hết đều sử dụng Facebook như một trang để trò chuyện, đăng và bình luận về các cập nhật trạng thái. Họ rất thích đưa ra và nhận được sự khẳng định ngang hàng trên trang web này. Nhiều người trong số những trẻ vị thành niên này đang cố gắng thực hiện hành vi phạm pháp của mình. Nhưng một khía cạnh đáng tiếc trong việc sử dụng Facebook của trẻ, được đưa ra trong các cuộc phỏng vấn, là lượng người theo dõi online có thể khiến quá trình này trở nên khó khăn hơn. Có những áp lực để thể hiện lòng trung thành của nhóm và tán thành các hành vi phạm pháp. Tuy nhiên, một số đã sử dụng Facebook để báo hiệu một sự thay đổi:

Vâng, thông qua bài đăng của tôi… như tôi nói, ‘Tôi phát ốm và mệt mỏi với cuộc sống này. Tôi chỉ muốn thay đổi ‘.

Người phạm tội trong độ tuổi vị thành niên và cả đời

Terrie Moffitt đã phân biệt giữa hành vi phạm tội liên tục ở tuổi vị thành niên và hành vi phạm tội dai dẳng. Một sự phân biệt tương tự đôi khi được gọi là người bắt đầu sớm và người bắt đầu muộn các hành vi phạm pháp. Ở tuổi nhi đồng, trẻ em có một con đường phát triển khá bình thường, nhưng có một số hành vi chống đối xã hội và phạm pháp, khi chúng bước vào tuổi dậy thì và trong khoảng cách đến trưởng thành, bị lôi kéo vào các hành vi liều lĩnh của các nhóm đồng lứa chống đối xã hội. Một số hành vi phạm pháp thể hiện quyền tự chủ và có địa vị với các bạn cùng lứa tuổi. Tuy nhiên, các hành vi phạm tội có xu hướng nhẹ và giảm dần khi đến tuổi trưởng thành. Khi bị xúc phạm dai dẳng, trẻ em hung hăng và gây rối ở trường tiểu học và trung học cơ sở, và thường bị bạn bè từ chối vào thời điểm đó. Tuy nhiên, ở trường trung học, trẻ liên kết với những người khác giống như mình và tạo thành cốt lõi của các nhóm đồng lứa chống đối xã hội. Trẻ phạm tội từ khi còn khá sớm thì có nhiều khả năng tái phạm. Những trẻ này ít bị ảnh hưởng bởi áp lực của bạn bè, nhưng lại có thể hoạt động như một nam châm đóng vai trò, thu hút những người đồng phạm ở độ tuổi vị thành niên trở thành đồng phạm. Không ai trong số những trẻ bị kết án đầu tiên sau 15 tuổi sau này xếp vào danh sách tội phạm nhiều lần.

Chấp nhận rủi ro, tuổi dậy thì và thay đổi não bộ

Quan điểm khoa học thần kinh tương đối mới cho thấy nguy cơ gia tăng liên quan đến những thay đổi của não ở tuổi thiếu niên. Có sự gia tăng nhạy cảm với sự từ chối của bạn bè, và cũng có sự thay đổi tạm thời trong cân bằng của việc tìm kiếm cảm giác trái ngược với sự kiểm soát hành vi. Trong một nghiên cứu ở Mỹ với khoảng 1.000 người tham gia từ 10 đến 30 tuổi, việc tìm kiếm cảm giác có liên quan đến quá trình trưởng thành ở tuổi dậy thì. Nó tăng ở khoảng tuổi 10 đến 15 tuổi, trước khi giảm. Ngược lại, kiểm soát hành vi thì không liên quan đến tuổi dậy thì và tăng đều đặn từ 10 tuổi trở đi.

Hơn nữa, sự hiện diện của bạn bè đồng trang lứa có thể tăng cường hành vi nguy cơ, đặc biệt là ở tuổi vị thành niên. Một nghiên cứu khác ở Mỹ sử dụng ba nhóm tuổi: vị thành niên (14-18), thanh niên (19-22) và người lớn (24-29). Họ được giao một nhiệm vụ lái xe mô phỏng với các nút giao thông. Đôi khi họ ở một mình, đôi khi họ được cho biết rằng những người bạn cùng lứa đang theo dõi qua màn hình. Các nhà nghiên cứu đã đo lường các quyết định rủi ro trong nhiệm vụ này. Khi ở một mình, không có nhiều khác biệt về mức độ chấp nhận rủi ro, nhưng khi được nói với những người bạn đồng lứa đang theo dõi, chỉ có vị thành niên cho thấy mức độ chấp nhận rủi ro tăng lên. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã đánh giá hoạt động của não bằng cách sử dụng quét fMRI. Trong điều kiện có quan sát đồng lứa, vị thành niên cho thấy hoạt động của não nhiều hơn ở các vùng nhạy cảm với phần thưởng của não, nhưng không có thay đổi trong các vùng kiểm soát hành vi. Trong các tình huống thực tế, phần thưởng có thể được thể hiện để đạt được địa vị với các bạn đồng lứa.

Quan điểm này cho thấy rằng các hành vi nguy cơ có thể được hiểu theo sự cân bằng của xung động cảm xúc và kiểm soát nhận thức, cộng với các yếu tố khác như nâng cao ảnh hưởng của bạn đồng lứa. Nhưng quan trọng là, nó không có nghĩa, trẻ vị thành niên thiếu hiểu biết về nhận thức những rủi ro liên quan.

Hai mô hình được so sánh

Đặc biệt tập trung vào hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên, Bruce Ellis và các đồng nghiệp vào năm 2012 đã so sánh hai mô hình giải thích. Đây là mô hình tâm sinh lý phát triển và mô hình tiến hóa. Cả hai mô hình đều thừa nhận ảnh hưởng của việc nuôi dạy con cái không tốt, sự bất hòa từ nhà trường, mối quan hệ với những người bạn cùng chí hướng và môi trường thiếu thốn. Nhưng mô hình tâm lý học phát triển cũng coi việc chấp nhận rủi ro là hành vi không thích hợp, một dấu hiệu cho thấy có điều gì đó không ổn trong quá trình phát triển. Điều này là do hậu quả của hành vi rủi ro đối với bản thân và những người khác.

Tuy nhiên, sự nhấn mạnh hoàn toàn vào hậu quả thì bỏ qua sự cân bằng của các lợi ích có thể có. Tất cả chúng ta đều chấp nhận một số rủi ro, và chúng ta cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn với hậu quả. Điều này tất nhiên phù hợp với lý thuyết kiểm soát xã hội. Nếu bạn có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình hoặc trường học, thì lợi ích ngắn hạn của việc ăn cắp từ một cửa hàng sẽ ít hơn rất nhiều bởi cái giá phải trả lâu hơn là bị phụ huynh phạt và có thể bị đuổi học. Tuy nhiên, nếu bạn không có mối quan hệ chặt chẽ như vậy, cán cân hậu quả-lợi ích có thể thay đổi. Ellis và các đồng nghiệp đã đề xuất mô hình tiến hóa, lấy những hiểu biết sâu sắc từ thuyết tiến hóa, mà chúng ta xem xét ở bài đầu. Họ gợi ý rằng quan điểm như vậy cung cấp năm hiểu biết chính. Đầu tiên, tuổi vị thành niên là thời kỳ thiết lập địa vị trong nhóm đồng lứa và cuối cùng là thành công trong sinh sản. Xu hướng cạnh tranh gia tăng. Những hành vi rủi ro như lăng nhăng tình dục có thể có lợi khi tìm hiểu về sở thích và mong muốn của người bạn đời của bạn. Thứ hai, các hành vi nguy hiểm và hung hăng như bắt nạt có thể giúp có được nguồn lực và nâng cao vị thế. Thứ ba, tỷ lệ hậu quả – lợi ích của các hành vi rủi ro sẽ thay đổi tùy thuộc vào môi trường hiện hành. Trong những môi trường không thể đoán trước và căng thẳng, một lợi ích ngắn hạn nhất định có thể được đánh giá cao hơn bất kỳ hậu quả dài hạn nào vì hình như nó có thể không bao giờ phát sinh. Thứ tư, lý thuyết lựa chọn giới tính dự đoán rằng nam giới có nhiều điều được, và mất ít hơn từ các hành vi nguy cơ. Thứ năm, so với môi trường thích nghi với tiến hóa, trẻ vị thành niên đương đại nằm trong các nhóm lớn, cùng lứa tuổi có thể làm tăng các hành vi nguy cơ. Các nhóm đồng lứa tuổi hỗn hợp nhỏ hơn có thể cung cấp một bối cảnh tự nhiên hơn và một bối cảnh làm tăng các hành vi vì xã hội.

Không phải tất cả những hiểu biết này đều mới. Chắc chắn lý thuyết nâng cao danh tiếng không coi hành vi rủi ro là hành vi sai trái. Mô hình tiến hóa phù hợp với quan điểm khoa học thần kinh, nhưng tập trung vào các chức năng hơn là cơ chế (vào ‘tại sao’ chứ không phải ‘như thế nào’). Nó cung cấp một khung giải thích tổng thể và, giống như các lý thuyết khác, nó có ý nghĩa can thiệp.

Các biện pháp can thiệp

Ngay cả khi đôi khi thích ứng với cá nhân, việc chấp nhận rủi ro và phạm pháp ở tuổi vị thành niên, đặc biệt là khi có nhiều hành vi không thường xuyên hoặc nhỏ, đều có những hậu quả đáng kể cho xã hội. Các vụ tai nạn xe hơi, mang thai ngoài ý muốn, tội phạm vị thành niên như trộm cắp và hành hung cần được giảm thiểu càng nhiều càng tốt. Từ quan điểm lý thuyết kiểm soát xã hội, cải thiện kỹ năng nuôi dạy con cái và mối quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên, cung cấp một môi trường học đường được tổ chức tốt và khuyến khích, cũng như tham gia vào các hoạt động phát triển bản thân có hiệu quả sẽ là những bước quan trọng.

Những gì có thể không hữu ích là các chương trình đào tạo kỹ năng xã hội hoặc đào tạo đồng cảm, có thể không đạt mục tiêu. Những loại can thiệp dựa trên đồng lứa này có thể có những tác động được gọi là tác động tiêu cực, hoặc không mong muốn. Nếu những đứa trẻ chống đối xã hội được chọn tham gia vào một cuộc can thiệp dựa trên nhóm kiểu này, thì chúng thực sự có thể chia sẻ và củng cố giá trị của nhau. Như lý thuyết nâng cao danh tiếng sẽ gợi ý, họ có thể chọn nâng cao vị thế của mình trong nhóm mới này bằng cách tham gia vào các hành vi chống đối xã hội. Hậu quả này có thể lớn hơn bất kỳ lợi ích nào có thể có của chính chương trình đào tạo.

Quan điểm khoa học thần kinh cho rằng trẻ vị thành niên nhận thức được rủi ro nhưng khá bốc đồng, vì vậy các chiến lược để khiến việc thực hiện các hành vi chấp nhận rủi ro trở nên khó khăn hơn sẽ được khuyến nghị. Ví dụ có thể là điều chỉnh việc bán rượu bia, nâng độ tuổi lái xe hợp pháp và cải thiện khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai. Mô hình tiến hóa cũng lập luận rằng những lời khuyến khích và chương trình nâng cao nhận thức về rủi ro có thể phản tác dụng, vì chúng có thể làm tăng tình trạng của các hoạt động chấp nhận rủi ro. Bên cạnh việc giải quyết các điều kiện môi trường bất lợi khiến khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn, nó chỉ ra sự cần thiết phải cung cấp các lộ trình thay thế cho trẻ vị thành niên để duy trì danh tiếng với nhóm bạn cùng trang lứa. Trẻ vẫn cần nâng cao vị thế, nhưng không quá rủi ro cho bản thân hoặc có khả năng gây hại cho người khác; tham gia thể thao có thể là một trong những ví dụ như vậy.

Khoa học thần kinh

https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/du-hoc/9x-gianh-hoc-bong-dh-khai-phong-my-sau-3-nam-gap-years-736293.html

Bài viết trên chỉ nhằm mục tiêu ca ngợi một bạn trẻ với kết quả đạt được học bổng của bạn ấy. Nhưng với tôi, bài viết này có ý nghĩa khi nhắc tới tới một ngành học bậc đại học- ngành khoa học thần kinh. (P/s: tôi không hiểu tiêu đề, đoạn 3 năm “gap years”- bạn trẻ này đã đi học và học năm 3 y khoa nên việc hiểu về khoa học thần kinh có ý nghĩa khác biệt chứ- nhưng chắc đó là việc của các trung tâm tư vấn du học).

Trong 4 năm vừa qua, tôi đã một lần nữa, thay đổi nội dung làm việc của mình, từ việc tập trung vào nguyên lý tâm lý học, sang một nguyên lý đa ngành, mà tôi bao hàm trong đó: tâm lý lâm sàng, tâm thần, thần kinh, phục hồi chức năng, y học cổ truyền. Và từ đó, tôi buộc phải đi sâu về tâm lý học và thần kinh học, phát hiện mối liên quan bản chất, là cơ sở cho hoạt động đa ngành mà vì thế, blog này được lập ra.

Bài viết này được soạn theo lời phát biểu của Eric R. Kandel, Thomas M. Jessell, Steven A. Siegelbaum và A. J. Hudspeth về khoa học thần kinh năm 2013.

Mục tiêu cuối cùng của khoa học thần kinh là hiểu được cách thức mà tín hiệu điện, thông qua các mạch thần kinh, hình thành trong tâm trí – đối với cách chúng ta nhận thức, hành động, suy nghĩ, học hỏi và ghi nhớ- nghĩa là những chức năng tâm lý, chứ không phải sinh lý như trước kia chúng ta nói về thần kinh học. Mặc dù chúng ta vẫn còn nhiều thập kỷ nữa mới đạt được mức độ hiểu biết này, nhưng các nhà khoa học thần kinh đã đạt được những tiến bộ đáng kể khi hiểu sâu hơn về các cơ chế thần kinh cơ bản, đầu ra có thể quan sát được, của hệ thần kinh đối với con người và các sinh vật khác. Chúng ta cũng đang bắt đầu hiểu về các rối loạn hành vi liên quan đến bệnh thần kinh và tâm thần. Hành vi có thể được kiểm tra về hoạt động điện, của cả neuron riêng lẻ và hệ thống các neuron bằng cách tìm kiếm câu trả lời cho năm câu hỏi cơ bản. Làm thế nào để các neuron trong não giao tiếp với nhau? Làm thế nào các vấn đề khác nhau của sự kết nối (tại synap) lại làm phát sinh các nhận thức và hành vi vận động khác nhau? Sự giao tiếp giữa các tế bào thần kinh được thay đổi như thế nào theo trải nghiệm cuộc sống? Giao tiếp đó bị thay đổi như thế nào do bệnh tật?

Vào những năm 1970, những câu hỏi này chỉ có thể được giải quyết trong các phần của sinh học tế bào. Nhưng đến những năm 1990- 2000, các vấn đề tương tự đã được nghiên cứu ở cấp độ phân tử. Từ đó đến nay, sinh học phân tử đã tiếp tục khai sáng việc phân tích các vấn đề sinh học thần kinh. Sinh học phân tử đã cho phép khám phá cơ chế bệnh sinh của nhiều bệnh thần kinh, bao gồm một số rối loạn di truyền nghiêm trọng: loạn dưỡng cơ, u nguyên bào võng mạc, u sợi thần kinh, bệnh Huntington và một số dạng bệnh Alzheimer. Sinh học phân tử cũng đã mở rộng hiểu biết của chúng ta về cách bộ não phát triển. Giun, ruồi và chuột biến đổi gen, giúp chúng ta xem xét các gen đơn lẻ, bao gồm các gen đột biến gây ra bệnh thần kinh, với tín hiệu trong các neuron và hành vi của một sinh vật. Đồng thời, các công cụ phân tử và quang học mới đã cho phép chúng ta quan sát hình ảnh hoạt động của các neuron riêng lẻ trong bộ não nguyên vẹn, cũng như điều khiển hoạt động điện của các neuron và mạch thần kinh để thay đổi hành vi. Những thí nghiệm như vậy đã giúp chúng ta có thể kiểm tra động lực học phân tử của các neuron trong các mạch chịu trách nhiệm cho các quá trình nhận thức.

Mỗi bệnh ảnh hưởng đến hệ thần kinh đều có một số thành phần di truyền. Giờ đây, 20.000 gen của bộ gen người đã được giải trình tự, có thể xác định gen nào khiến chúng ta dễ mắc các chứng rối loạn nhất định và do đó có thể dự đoán khuynh hướng mắc bệnh cụ thể của một cá nhân. Kiến thức về bộ gen của con người đang bắt đầu biến đổi việc thực hành y học. Việc quét bộ gen cá nhân có thể xác định được nguy cơ cá nhân đối với các rối loạn thần kinh và tâm thần ở mức độ ngày càng chi tiết và đầy đủ. Do đó, ngày càng rõ ràng rằng nền tảng của thần kinh học lâm sàng, phục hồi chức năng vận động và tâm thần học- ngành y khoa, tâm lý lâm sàng, ngôn ngữ trị liệu- ngành thuộc phạm vi chăm sóc sức khỏe, phụ thuộc nhiều vào sự tiến bộ của khoa học thần kinh.

Bất chấp sức mạnh của sinh học phân tử trong việc làm sáng tỏ các cơ chế phân tử của chức năng thần kinh và bệnh tật, bất kỳ sự hiểu biết chi tiết nào về cách các tế bào thần kinh hoạt động để tạo ra các hành vi phức tạp đều đòi hỏi phải phân tích mạch mà các tế bào thần kinh tham gia. Do đó, các câu hỏi quan trọng trong khoa học thần kinh bao gồm: Các tổ hợp tế bào thần kinh được hình thành như thế nào trong quá trình phát triển? Các tính toán được thực hiện bởi các mạch thần kinh đó là gì và hoạt động này tạo ra hành vi như thế nào? Các mạch thay đổi như thế nào trong quá trình học tập và ghi nhớ? Những thay đổi nào trong các mạch thần kinh gây ra bệnh thần kinh và tâm thần? Như vậy, những kiến ​​thức về chức năng của các tổ hợp tế bào thần kinh trong các mạch xác định phải đạt được để vươn đến một khoa học thần kinh nhận thức toàn diện.

Để hiểu cách chúng ta nhận thức, hành động, suy nghĩ, học hỏi và ghi nhớ, chúng ta phải xem xét các phương pháp tiếp cận và sơ đồ khái niệm mới để hiểu hành vi của các hệ thống bao gồm từ các neuron đơn lẻ đến nền tảng của nhận thức (từ cấu trúc giải phẫu đến chức năng sinh lý và tâm lý). Kết quả là, chúng ta phải xem xét đầy đủ hơn về cách các chức năng nhận thức và hành vi của hệ thống cảm giác và vận động, mở rộng việc xử lý các quá trình nhận thức, và đưa vào cuộc thảo luận của chúng ta sức mạnh và tầm quan trọng ngày càng tăng của khoa học thần kinh số hóa. Khả năng ghi lại hoạt động điện và xử lý số hóa những thay đổi chức năng trong não, trong quá trình hoạt động trí óc bình thường và bất thường, cho phép nghiên cứu trực tiếp các quá trình nhận thức phức tạp. Chúng ta không còn bị ràng buộc bởi sự đơn giản là suy ra các chức năng tâm trí từ hành vi có thể quan sát được. Thật vậy, một sự đánh giá mới đối với cái nhìn ban đầu của Freud về tầm quan trọng của các quá trình vô thức — một trong những chủ đề xuất hiện ban đầu trong khoa học thần kinh nhận thức — nhấn mạnh lại hạn chế lớn của việc phân tích của chúng ta là về nội tâm và đưa đến những hành vi có thể quan sát được. Nhờ sự tiến bộ trong việc mô tả các quá trình tâm lý vô thức, khoa học thần kinh có thể sớm phát triển các công cụ cần thiết để khám phá những bí ẩn sinh học sâu nhất — cơ sở sinh học của ý thức và ý chí tự do.

Những quan điểm về các tiến trình tâm lý trước đây, thậm chí, đang tỏ ra không đầy đủ trong thế kỷ 21. Một ví dụ cụ thể, chúng ta cảm nhận rằng chúng ta nhận thức được đối tượng trước khi tương tác với nó và do đó chúng ta hoàn toàn mong đợi rằng bộ não hoạt động trong theo cách tuần tự này. Các nghiên cứu ở mức độ cao nhất chỉ ra rằng ở cấp độ cao nhất, hệ thống vận động và cảm giác hoạt động song song, không theo chuỗi, và hệ thống vận động có khả năng nhận thức đáng kể.

Kết quả của sự tiến bộ này, việc viết phần giới thiệu mạch lạc về hệ thần kinh đối với sinh viên đang theo học hành vi, sinh học và y học trở nên dễ dàng hơn. Ngày nay sinh học thần kinh là trung tâm của khoa học sinh học – và thực sự đối với khoa học nói chung. Sinh viên sinh học ngày càng muốn làm quen với khoa học thần kinh, và hầu hết sinh viên tâm lý học coi mình đang nghiên cứu cơ sở sinh học của hành vi. Đồng thời, tiến bộ trong khoa học thần kinh đang cung cấp hướng dẫn rõ ràng hơn cho các bác sĩ lâm sàng, đặc biệt là trong điều trị các rối loạn tâm thần. Trên thực tế, có lẽ sự thay đổi đáng kể nhất trong bối cảnh lâm sàng đầu thế kỉ 21 này là, nhận thức rằng tâm thần học có thể là một khoa học thần kinh lâm sàng, rằng tiến bộ của liệu pháp tâm lý có thể được đánh giá định lượng bằng hình ảnh não. Do đó, chúng tôi tin rằng điều đặc biệt quan trọng là phải làm rõ các nguyên tắc và cơ chế chính điều chỉnh các chức năng của hệ thần kinh đối với sức khỏe và bệnh tật mà không bị mất chi tiết.

Bằng cách kết hợp sinh học phân tử, sinh lý học thần kinh, giải phẫu học, sinh học phát triển và sinh học tế bào với nghiên cứu nhận thức, cảm xúc và hành vi ở động vật và con người, qua các công nghệ hình ảnh tiên tiến, khoa học thần kinh hiện đại đã tạo ra một khoa học mới về tâm trí. Cùng với quan sát lâm sàng sắc sảo, khoa học thần kinh hiện đại đã củng cố ý tưởng đầu tiên được đề xuất bởi Hippocrates cách đây hơn hai thiên niên kỷ rằng nghiên cứu đúng đắn về tâm trí bắt đầu bằng nghiên cứu về não bộ. Đến lượt mình, tâm lý học nhận thức đã nhấn mạnh đến tính đa dạng và phức tạp của trải nghiệm tinh thần của con người. Bằng cách nhấn mạnh cấu trúc tinh thần chức năng và biểu diễn bên trong, tâm lý học nhận thức đã nhấn mạnh tính logic của các hoạt động tinh thần và của các biểu hiện bên trong. Tâm lý học nhận thức thực nghiệm và liệu pháp tâm lý lâm sàng hiện có thể được củng cố bằng những hiểu biết sâu sắc về khoa học thần kinh về hành vi và bằng cách hình ảnh các quá trình tâm thần đang hoạt động trong thời gian thực. Chúng ta một lần nữa hy vọng sẽ khuyến khích thế hệ sinh viên đại học, sau đại học và y khoa tiếp theo, tiếp cận nghiên cứu về hành vi theo cách hợp nhất các khía cạnh sinh học và xã hội của nó. Nhiệm vụ trong những năm tới là tạo ra một nghiên cứu về các quá trình tinh thần, dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học thần kinh thực nghiệm, nhưng vẫn quan tâm đầy đủ đến các vấn đề về cách tạo ra các biểu diễn và trạng thái bên trong tâm trí.

Từ xa xưa, hiểu biết đối nhân xử thế đã là trọng tâm của các nền văn hóa văn minh. Được khắc trên lối vào của Đền thờ Apollo ở Delphi là câu châm ngôn nổi tiếng “Biết chính mình”. Và biên giới của những hiểu biết này vẫn đang đi ra xa chúng ta, thúc đẩy chúng ta đi tiếp, và dường như chưa có điểm dừng.

Vị thành niên- bài 3 phần 2

Sau khi đăng phần 1, có bạn đọc phản ánh là bài viết này khó hiểu. Tôi cũng thấy vậy, nếu xem xét bài viết từ góc độ các ‘đẳng thức’ toán học. Nhưng nếu xem xét từ góc độ kinh tế học thì sẽ dễ hiểu hơn chăng. Cần lưu ý, nếu bài 2 chủ yếu bàn trên nền tảng thần kinh học, thì bài này chủ yếu bàn trên nền tảng tâm lý xã hội học. Gợi ý này nảy sinh khi tôi đọc về một giải Nobel về kinh tế năm 2002, được trao cho Daniel Kahneman, người được tôi biết như là một nhà tâm lý học nhận thức. 

Nhóm ngang hàng

Khi trẻ vị thành niên trở nên độc lập với cha mẹ, chúng dành nhiều thời gian hơn cho bạn bè cùng trang lứa và hướng tới bạn bè đồng trang lứa thường xuyên hơn để được hỗ trợ và nhận dạng xã hội. Điều này được để ý bắt đầu với những người khuynh hướng đồng giới nhưng ngày càng thấy rõ liên quan đến cả những người khuynh hướng khác giới (sau này) ở tuổi vị thành niên. Một nghiên cứu kinh điển về vị thành niên và thanh niên Úc từ 13–21 tuổi, đã sử dụng kết hợp các quan sát, bảng câu hỏi, nhật ký và phỏng vấn để ghi lại. Trong giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, nhiều trẻ đã qua lại với một số từ ba đến chín người cùng giới tính; trẻ tương tác ít bên ngoài nhóm của mình. Nhưng một vài năm sau, trẻ sẽ ở trong các nhóm hoặc đám đông lớn hơn, được tạo thành từ một số nhóm tương tác. Đây vẫn sẽ là các nhóm cùng giới, nhưng các thành viên trưởng thành hơn hoặc có địa vị cao hơn sẽ bắt đầu tiếp xúc với các thành viên khác giới. Dần dần, các thành viên khác trong đám đông sẽ làm theo các thành viên dẫn dắt. Điều này dẫn đến một giai đoạn mà đám đông dị tính được tạo thành từ các nhóm nam và nữ liên kết lỏng lẻo. Sau đó, các mối quan hệ lãng mạn phát triển. Như vậy ‘cùng giới’ phản ánh về giới tính sinh học, còn ‘đồng giới’ phản ánh bản dạng giới. 

Một nghiên cứu gần đây hơn ở Hoa Kỳ đã xác nhận những xu hướng này, sử dụng kết hợp bảng câu hỏi và phỏng vấn qua điện thoại để hỏi trẻ em và vị thành niên xem chúng đã dành bao nhiêu thời gian cho các bạn cùng lứa tuổi, từ giữa thời thơ ấu (8 tuổi) đến cuối tuổi vị thành niên (18 tuổi). Thời gian ở với bạn cùng giới tăng đều đặn từ 8 đến 14 tuổi. Sau đó, nó bắt đầu giảm, khi bắt đầu dành nhiều thời gian hơn cho những người khác giới. Thời gian ở với bạn khác giới tăng lên sau tuổi dậy thì (vì vậy, ở trẻ em gái sớm hơn trẻ em trai), nhiều hơn hẳn thời gian mà có với bạn cùng giới ở thời kì muộn hơn của tuổi vị thành niên.

Các nhà nghiên cứu này cũng đánh giá các hành vi có vấn đề (uống rượu, hút thuốc, trốn học), các triệu chứng trầm cảm, năng lực xã hội và kết quả học tập ở trường. Theo thời gian, thời gian được giám sát nhiều hơn với các bạn cùng lứa (khi có mặt một người trưởng thành hoặc lớn tuổi) tương quan với việc cải thiện kết quả học tập, trong khi thời gian không được giám sát nhiều hơn với các bạn cùng lứa cho dự đoán nhiều các hành vi có vấn đề và các triệu chứng trầm cảm hơn, có lẽ do ảnh hưởng của các bạn lớn tuổi hơn.

Tình bạn ngang hàng

Tình bạn ngang hàng khác với mối quan hệ với cha mẹ hoặc người chăm sóc. Mối quan hệ với cha mẹ thường được mô tả là một mối quan hệ một chiều, trong khi tình bạn với những người đồng trang lứa được đặc trưng như sự hỗ trợ và qua lại. Các ý kiến ​​khác nhau có thể được bày tỏ và thảo luận các ý tưởng mới. Trong khi các mối quan hệ của cha mẹ con cái có thể trở nên gắn bó hơn trong thời kỳ vị thành niên, chúng không thực sự trở nên hỗ trợ và qua lại như các mối quan hệ đồng trang lứa.

Trong thời thơ ấu và nhi đồng, tình bạn được chính trẻ em mô tả là chơi cùng nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Quan niệm này sâu sắc hơn ở tuổi vị thành niên với sự hiểu biết rằng bạn bè thể hiện sự thân thiết và tương hỗ trong một mối quan hệ vẫn tiếp tục dù có những thất bại nhỏ. Một thước đo chất lượng của tình bạn thường được sử dụng đánh giá bốn yếu tố tích cực: Đồng hành, Giúp đỡ, An toàn và Gần gũi. Có nhiều hoạt động xã hội căng thẳng hơn giữa bạn bè và giải quyết xung đột cũng thường xuyên hơn (một phần của biện pháp An toàn); bạn bè có thể cãi nhau, nhưng họ vượt qua những cuộc cãi vã hiệu quả hơn những người không phải là bạn bè.

Một số nghiên cứu đã sử dụng các trò chơi có tính kinh tế hành vi để kiểm tra sự tin tưởng và chia sẻ giữa các bạn đồng lứa. Ví dụ, trong ‘Trò chơi Tối hậu’, hai người chơi được chia một khoản tiền: người chơi 1 phải quyết định cách chia số tiền này và người chơi 2 có tùy chọn chấp nhận số tiền này hoặc từ chối (trong trường hợp từ chối, cả hai đều không nhận được tiền). Sự công bằng trong điều này tăng lên qua thời thơ ấu và vị thành niên, và có liên quan đến khả năng trí tuệ hóa. Trong ‘Trò chơi Niềm tin’, một lần nữa hai người chơi có một khoản tiền để chia sẻ. Ở đây, người chơi 1 có thể quyết định chia hoặc tin tưởng người chơi 2 quyết định chia, trong trường hợp đó, số tiền sẽ tăng gấp ba lần. Đây là trò chơi diễn ra một lần, vì vậy mặc dù để người chơi 2 quyết định có thể rất có lợi, nhưng nó đòi hỏi người chơi 1 phải tin tưởng người chơi 2 để chia sẻ công bằng cho anh ta hoặc cô ta. Ở giai đoạn đầu tuổi vị thành niên, người chơi có xu hướng đưa ra những lựa chọn mang tính định hướng bản thân nhiều hơn; ở tuổi vị thành niên sau này, họ xem xét hậu quả cho người khác nhiều hơn. Họ cũng có xu hướng phân biệt rõ ràng trong đối xử hơn, thân thiện hơn với bạn bè. Một số thay đổi này có liên quan đến sự thay đổi hoạt động trong các vùng não xã hội.

Bản chất của tình bạn đã bị ảnh hưởng trong những năm gần đây do việc sử dụng phổ biến internet và các trang mạng xã hội. Ví dụ, những người trẻ có thể có rất nhiều ‘bạn bè’ trên Facebook, bao gồm cả những người quen thuộc offline nhưng cũng có những người chỉ biết online. Thảo luận về bản chất của bạn bè online đã tạo ra hai lập trường đối lập. Giả thuyết về ‘sự dịch chuyển’ lập luận rằng tình bạn online, có số lượng nhiều hơn nhiều và thường thiếu sự tiếp xúc trực tiếp, về cơ bản là hời hợt hơn; đang thay thế tình bạn offline truyền thống nhưng không có những phẩm chất như sự thân thiết và hỗ trợ. Ngược lại, giả thuyết ‘kích thích’ lập luận rằng tình bạn online có thể bổ sung chất lượng và số lượng giao tiếp, dẫn đến gia tăng sự thân mật và hỗ trợ.

Hiện tại, bằng chứng được cho là có lợi hơn cho giả thuyết kích thích. Những người bạn offline hiện tại có thể giao tiếp thường xuyên hơn bằng cách lên mạng và nói chung điều này tạo điều kiện cho sự gần gũi. Một số thanh niên có thể lúng túng khi giao tiếp trực tiếp có thể cảm thấy dễ dàng hơn khi chia sẻ thông tin và phát triển sự thân thiết với bạn bè khi online. Tuy nhiên, đây là một tình huống đang thay đổi nhanh chóng, khi mức độ thâm nhập internet tăng lên đối với lứa tuổi trẻ hơn, sự ngẫu nhiên và cơ hội được cung cấp bởi các trang mạng xã hội tiếp tục phát triển.

Các vấn đề về hòa nhập

Cấu trúc của tình bạn và vị trí trong nhóm đồng đẳng đã được nghiên cứu bằng cách sử dụng các kỹ thuật xã hội học. Điều này có thể được thực hiện bằng cách quan sát, nhưng thường được thực hiện hơn bằng cách hỏi trẻ xem bạn bè của chúng là ai, hoặc ai là người mà trẻ thích nhất và ít thích nhất, trong lớp hoặc nhóm đồng lứa của trẻ. Đối với trẻ vị thành niên, bên cạnh việc yêu cầu các đề cử về tình bạn, các nhà nghiên cứu có thể hỏi những câu hỏi như, “Có những người hay đi chơi với nhau ở trường không? Họ là ai?” để xem xét cấu trúc của các băng nhóm và đám bạn lớn hơn. Bằng cách kết hợp thông tin từ những người cung cấp thông tin khác nhau, có thể phát triển bản đồ nhận thức – xã hội về cấu trúc nhóm đồng lứa ở trẻ vị thành niên. Bên cạnh việc xem xét vị trí của một cá nhân trong nhóm, cũng có thể nhìn vào vị trí trung tâm của một nhóm hoặc nhóm trong mạng lưới nhóm đồng lứa rộng lớn hơn của trường học.

Những người ở trung tâm của một nhóm xã hội và có nhiều bạn bè được mô tả là nổi tiếng. Nhưng trên thực tế, các nhà nghiên cứu đã mô tả hai loại hòa nhập ngang hàng. Hòa nhập ‘được yêu thích’ là có nhiều bạn bè và không bị nhiều người khác ghét. Thông thường, một thiếu niên nổi tiếng sẽ nhận được nhiều đề cử là thích nhất và ít nếu có thì ít được yêu thích nhất khi bạn cùng lớp bị chất vấn. Những đứa trẻ hòa nhập về mặt này thường hợp tác, thích ứng tốt và tự tin. Một loại phổ biến khác được gọi là hòa nhập ‘được công nhận’. Đây là một thước đo khả năng hiển thị xã hội thu được bằng cách hỏi bạn cùng lớp không phải họ thực sự thích ai mà là họ nghĩ ai là những học sinh nổi tiếng nhất.

Có một sự chồng chéo giữa hai hình thức này, nhưng chỉ ở mức hạn chế. Những trẻ được đánh giá cao về cả mức độ hòa nhập được yêu thích và mức độ được công nhận được nhận thức thường là những trẻ có nhiều kỹ năng tiền xã hội và xã hội (tôi chưa rõ nội dung hai loại kĩ năng này), nhưng không quá hung hăng. Tuy nhiên, những trẻ khác, mà chỉ cao về mức độ được công nhận, có thể gây tranh cãi về mặt được yêu thích. Điều này có nghĩa là họ nhận được nhiều lượt đánh giá nổi tiếng nhất nhưng cũng có nhiều lượt đề cử ít được yêu thích nhất. Họ có thể ở trong một nhóm hoặc bè phái có địa vị cao, nhưng cũng có thể là một nhóm khá thống trị, hung hăng hoặc bắt nạt. Một số nghiên cứu cho thấy rằng điều này có thể phổ biến hơn ở trẻ em gái hơn là ở trẻ em trai. Một nghiên cứu ở Mỹ đã yêu cầu trẻ vị thành niên lớp 8 mô tả ý nghĩa của việc trở nên nổi tiếng. Trở nên ‘cool’ là phản ứng phổ biến nhất.

Tuy nhiên, nhiều chàng trai đề cập đến việc thể thao và hài hước. Nhiều cô gái được đề cập đến tính hấp dẫn, nhưng cũng đề cập đến tính xấu tính, hợm hĩnh và thô lỗ; sau đó là những đặc điểm của sự hung hăng trong quan hệ, có vẻ liên quan nhiều hơn đến mức độ hòa nhập được công nhận ở trẻ em gái.

Những thay đổi do ảnh hưởng ngang hàng

Ở mọi lứa tuổi, có xu hướng tương hợp với những người khác là đáng kể — đi theo những gì bạn bè của bạn nghĩ hoặc làm. Điều này có mạnh mẽ hơn ở tuổi vị thành niên không? Một số bằng chứng cho thấy rằng sự tương hợp với các bạn đồng lứa tăng lên đến khoảng 14 tuổi trước khi giảm trở lại, có lẽ đặc biệt là cho đến lúc các hành vi chống đối xã hội được quan tâm. Tuy nhiên, có những quan điểm trái chiều về điều này. Một quan điểm nhấn mạnh sự đánh giá của bạn đồng lứa và sợ bị từ chối. Những lo lắng về tình bạn với bạn bè đồng trang lứa lên đến đỉnh điểm vào giữa tuổi vị thành niên. Một nghiên cứu yêu cầu trẻ vị thành niên hoàn thành các câu chưa hoàn chỉnh về tình bạn trong một nhóm nhỏ và phân tích kết quả về nội dung cảm xúc của trẻ. Chủ đề lo lắng và sợ hãi bị bạn bè từ chối tăng từ lúc 11 lên 13 và sau đó là 15 tuổi, nhưng giảm đi lúc 17 tuổi. Một phát hiện tương tự cũng được thực hiện liên quan đến cảm giác bị xã hội từ chối hoặc tẩy chay bởi những người bạn cùng lứa tuổi. Nghiên cứu này đã sử dụng một mô hình phòng thí nghiệm có tên là Cyberball. Cyberball là một trò chơi chuyền bóng trên internet, trong đó người trẻ nghĩ rằng họ đang chơi với hai người chơi khác (thực tế là những người chơi khác được điều khiển bởi các thuật toán máy tính để bao gồm hoặc loại trừ người tham gia). Khí sắc và lo âu theo sau khi bị loại trừ được đánh giá. Một nghiên cứu đã so sánh vị thành niên sớm (11-13 tuổi), vị thành niên trung (14-15 tuổi) và trưởng thành (22-47 tuổi) chơi trò chơi này. Các trẻ vị thành niên tỏ ra đau khổ hơn khi bị xã hội loại trừ trong trò chơi, với sự lo âu tăng lên rõ rệt nhất ở nhóm vị thành niên sớm. Trong một mô hình liên quan, các cô gái vị thành niên cho thấy sự lo âu xã hội nhiều hơn đối với sự đánh giá của bạn bè, liên quan đến việc kích hoạt các vùng não liên quan đến xử lý cảm xúc.

Một quan điểm khác cho rằng một phần của sự phát triển nhận thức và xã hội của tuổi vị thành niên là sự gia tăng tính tự chủ và trưởng thành. Điều này có thể ngụ ý rằng ảnh hưởng ngang hàng có thể bị chống lại nếu nó đi ngược lại các giá trị của riêng một người. Một số nhà nghiên cứu đã xây dựng một thước đo về Khả năng chống lại ảnh hưởng của bạn bè (RPI), bao gồm các mục như ‘Một số người đi cùng bạn bè của họ chỉ để giữ bạn bè của họ vui vẻ, NHƯNG những người khác từ chối đi cùng bạn bè của họ chỉ để giữ cho bạn bè của họ vui vẻ’, với người được hỏi điều này đúng như thế nào về họ. Họ nhận thấy sự gia tăng RPI chung theo độ tuổi từ 9 đến giữa 20 và đặc biệt là từ 14 đến 18 tuổi (mặc dù dường như có một sự sụt giảm nhỏ ở 14 tuổi). Trẻ em gái đạt RPI cao hơn trẻ em trai. Nhìn chung, có vẻ như qua tuổi vị thành niên tiềm năng ngày càng tăng về tính tự chủ và khả năng chống lại ảnh hưởng của bạn bè, nhưng ảnh hưởng của nhóm đồng lứa là rất đáng kể, và nỗi sợ hãi về sự từ chối của nhóm đồng lứa là rất cao, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên.

Gây hấn và bắt nạt

Một mặt tiêu cực hơn của mối quan hệ đồng lứa được tìm thấy khi một người trẻ bị người khác phớt lờ hoặc từ chối. Loại trừ xã ​​hội, cũng như những nỗ lực tích cực hơn để làm tổn hại vị thế xã hội của một người nào đó trong một nhóm hoặc tình bạn của họ, có thể bằng cách lan truyền tin đồn xấu, được coi là một hình thức gây hấn được gọi là ‘gây hấn quan hệ’. Gây hấn thường được định nghĩa là hành vi nhằm mục đích làm tổn thương người khác, và theo truyền thống, hành vi này là hành vi thể xác hoặc bằng lời nói. Tất nhiên các kiểu gây hấn bằng lời nói và thể chất xảy ra ở tuổi vị thành niên, nhưng hành vi gây hấn quan hệ cũng phổ biến và tương đối nhiều hơn so với thời thơ ấu hoặc nhi đồng. Đó là một kiểu gây hấn tinh vi hơn; điều đó ít rõ ràng hơn đối với người lớn, và điều đó có thể được biện minh bởi những người làm điều đó về lựa chọn cá nhân của bạn bè hoặc chia sẻ thông tin về người khác.

Một số mức độ của hành vi gây hấn có thể được coi là quy chuẩn và thực sự là một phần của quá trình trưởng thành. Đó là điều cần phải đối phó trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, bắt nạt là một loại hành vi gây hấn gây ra những lo ngại đặc biệt. Bắt nạt thường được định nghĩa là hành vi gây hấn lặp đi lặp lại với sự mất cân bằng quyền lực. Nạn nhân, bởi vì họ yếu hơn về mặt thể chất hoặc tâm lý theo một cách nào đó, không thể sẵn sàng tự vệ. Những trẻ đặc biệt có nguy cơ bị bắt nạt ở trường bao gồm trẻ vị thành niên thiếu bạn tốt; trẻ nhút nhát hoặc không quyết đoán; hoặc những trẻ có một số loại khuyết tật. Quấy rối chủng tộc và tình dục cũng có thể được coi là các hình thức bắt nạt. Quấy rối tình dục thường liên quan đến trẻ em gái là nạn nhân, từ trẻ em gái hoặc trẻ em trai khác, thường liên quan đến ngoại hình hoặc danh tiếng. Điều này có thể là offline nhưng bây giờ ngày càng có thể là online. Con trai cũng có thể có nguy cơ bị bắt nạt quan hệ như vậy, nhưng thường là về các nhận xét xúc phạm về xu hướng tình dục giả định hoặc thực tế. Bắt nạt như vậy cũng có thể ảnh hưởng đến các bé gái, nhưng thường xuất hiện phổ biến và nghiêm trọng hơn đối với các bé trai.

Cách trẻ đương đầu với việc bị bắt nạt khác nhau, nhưng tìm kiếm sự giúp đỡ nói chung là một chiến lược tốt. Thật không may, sự sẵn sàng tìm kiếm sự giúp đỡ của giáo viên hoặc cha mẹ ở tuổi vị thành niên ít hơn nhiều so với thời thơ ấu. Các chương trình hỗ trợ đồng đẳng (trong đó học sinh được đào tạo để có thể đưa ra hướng dẫn hoặc tư vấn) có thể cung cấp một lộ trình thay thế để nhận được hỗ trợ, ít nhất là ban đầu. Trong hai mươi năm qua, nhận thức về bắt nạt học đường và ảnh hưởng của nó đã tăng lên rất nhiều. Nhiều trường học hiện có chính sách chống bắt nạt (một yêu cầu pháp lý ở một số quốc gia) và thực hiện các bước tích cực để giảm bớt hoặc đối phó với hành vi bắt nạt, bao gồm công việc tích hợp trong chương trình giảng dạy, các chiến lược phục hồi và các biện pháp trừng phạt theo mức độ.

Giới thiệu một số tác giả về tâm lý học

Đã có câu hỏi đặt ra với tôi từ các sinh viên y khoa: “Em muốn tìm hiểu về tâm lý. Em nên đọc sách nào?”. Gần 10 năm trôi qua, tôi mới đủ tự tin để trả lời câu hỏi này. Tôi đã không thể trả lời ngay, vì thật sự với những cuốn sách tôi đã đọc, tôi vẫn không nhận ra bộ mặt rõ nét của tâm lý lâm sàng. Tôi được chỉ cái mũi thế nào, cái mồm ra sao. Nhưng vì không có cả khuôn mặt, tôi vẫn cứ không chắc đó có thực sự là mũi không, có thực sự là mồm không (mặc dù những người chỉ cho tôi là những giáo sư, tiến sĩ đầu ngành của Việt Nam như thày Nguyễn Kim Việt, thày Nguyễn Sinh Phúc, thày Đinh Đăng Hòe… )

Cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc, và hiểu ra bộ mặt của tâm lý nhận thức, nền tảng cho ứng dụng của của nó là tâm lý lâm sàng là cuốn “Tâm lý lâm sàng: sách dành cho sinh viên”, ấn bản năm 1995, của Michael W. Eysenck (mà nhờ có Covid 19, Đại học Oxford mở một phần thư viện online của họ cho độc giả- con trai đang học tại Anh đã hỗ trợ tôi việc này). Nó giúp tôi có thể ghép tổng hòa các nét trên khuôn mặt đã biết, vào một khuôn mặt đầy đủ, rõ ràng. Thậm chí từ khuôn mặt này, tôi được hướng dẫn để biết về bên dưới, các hoạt động của các bộ phận thực sự thế nào.

Vì vậy tôi giới thiệu ở đây 3 tác giả quan trọng, có nhiều sách để các bạn làm chuyên môn đọc và tham khảo.

Michael W. Eysenck tốt nghiệp Đại học College London. Sau đó, ông chuyển ngay đến Đại học Birkbeck của London để làm giảng viên, nơi ông đã hoàn thành bằng Tiến sĩ của mình về “von Restorff và hiệu ứng ‘giải phóng’ trí nhớ”. Nghiên cứu của ông trong vài năm tập trung vào các chủ đề khác nhau trong nghiên cứu trí nhớ (ví dụ: mức độ xử lý; sự phân biệt). Tuy nhiên, trong nhiều năm sau, nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào lo âu và nhận thức (bao gồm cả trí nhớ). Hầu hết nghiên cứu này liên quan đến những quần thể khỏe mạnh nhưng một số đã giải quyết những thiên kiến trong nhận thức (bao gồm cả trong trí nhớ) ở những bệnh nhân lo âu. Nghiên cứu tập trung về trí nhớ đã được thực hiện tại Đại học Birkbeck của London và tại Đại học Royal Holloway của London, nơi ông là Giáo sư Tâm lý học từ năm 1987 (Trưởng khoa, 1987–2005). Tuy nhiên, nó đã được bắt đầu trong thời gian ông là Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Nam Florida. Ông đã xuất bản 40 cuốn sách về tâm lý học (nhiều cuốn liên quan đến trí nhớ của con người), bao gồm hai chuyên khảo nghiên cứu về lo âu và nhận thức. 

Tốt nghiệp ngành Tâm lý học tại Đại học College London, Alan Baddeley đã dành năm sau đó tại Princeton, nơi đầu tiên trong số năm lần lưu trú như vậy ở Mỹ. Ông đã trở lại một vị trí tại Đơn vị Tâm lý học Ứng dụng của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (APU) ở Cambridge, hoàn thành bằng Tiến sĩ, liên quan đến việc thiết kế các mã bưu chính. Ông tiếp tục kết hợp nghiên cứu ứng dụng, chẳng hạn như lặn- biển sâu, với các vấn đề lý thuyết như sự phân biệt giữa trí nhớ dài và ngắn hạn. Sau khi chuyển đến Đại học Sussex, ông và Graham Hitch đề xuất một mô hình đa thành phần của bộ nhớ hoạt động. Ông cũng bắt đầu làm việc với các bệnh nhân mất trí nhớ, tiếp tục cả hai dòng nghiên cứu này khi ông chuyển đến, đầu tiên là một vị trí tại Đại học Stirling, sau đó trở lại APU ở Cambridge. Sau 20 năm làm Giám đốc, ông chuyển đến Đại học Bristol đầu tiên, sau đó đến vị trí hiện tại ở York, nơi ông đã tiếp tục cộng tác với Graham Hitch. Ông đã được trao tặng bằng CBE vì những đóng góp của mình trong việc nghiên cứu trí nhớ, là thành viên của Hiệp hội Hoàng gia, của Học viện Anh và của Học viện Khoa học Y tế. Mô hình trí nhớ hoạt động của ông rất quan trọng trong chức năng tâm lý cơ bản nhất của con người là trí nhớ, cũng như cơ chế hoạt động của nó giúp chúng ta hình dung được sự phối hợp các chức năng tâm lý khác nhau như tri giác, học tập, và đặc biệt là chức năng điều hành.

ROBERT S. FELDMAN là Giáo sư Tâm lý học và Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Khoa học Xã hội và Hành vi tại Đại học Massachusetts ở Amherst. Feldman, người giành được giải thưởng Giáo viên Xuất sắc của Trường, cũng đã giảng dạy các khóa học tại Cao đẳng Mount Holyoke, Đại học Wesleyan và Đại học Virginia Commonwealth. Feldman, người khởi xướng Chương trình kèm cặp cho trẻ vị thành niên, dạy môn tâm lý học nhập môn cho các lớp có quy mô từ 20 đến gần 500 học sinh. Ông cũng đã từng là thành viên giảng dạy Hewlett và thành viên giảng dạy trực tuyến cao cấp, và anh ấy thường nói chuyện về việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy. Ông đã bắt đầu các khóa học đào tạo từ xa về tâm lý học tại Đại học Massachusetts. Feldman cũng tích cực tham gia vào việc thúc đẩy lĩnh vực tâm lý học. Ông là thành viên Hội đồng quản trị của Liên đoàn Khoa học Hành vi, Tâm lý và Nhận thức, đồng thời cũng nằm trong Hội đồng Quản trị của Quỹ vì Sự Tiến bộ của Khoa học Hành vi và Não bộ. Là thành viên của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ và Hiệp hội Khoa học Tâm lý, Feldman đã nhận được bằng B.A. với bằng Danh dự Cao từ Đại học Wesleyan và bằng M.S. và Ph.D. từ Đại học Wisconsin – Madison. Ông từng đoạt giải thưởng Giảng viên và Học giả Nghiên cứu Cấp cao Fulbright, và đã viết hơn 100 cuốn sách, chương sách và bài báo khoa học. Sách của ông bao gồm ‘Các nguyên tắc cơ bản về hành vi phi ngôn ngữ’, ‘Phát triển hành vi phi ngôn ngữ ở trẻ em’, ‘Tâm lý xã hội’, ‘Phát triển trong suốt cuộc đời’ và ‘P.O.W.E.R. Học tập: Các chiến lược để thành công trong trường đại học và cuộc sống’, và chúng đã được dịch sang một số ngôn ngữ, bao gồm tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hà Lan, tiếng Trung và tiếng Nhật. Các mối quan tâm nghiên cứu của ông bao gồm sự trung thực/ lừa dối và sử dụng hành vi phi ngôn ngữ trong quản lý ấn tượng, và nghiên cứu của anh ấy đã được hỗ trợ bởi các khoản tài trợ từ Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia và Viện Nghiên cứu Phục hồi và Khuyết tật Quốc gia. Tài liệu chính để tôi biên soạn sách “Sức khỏe tâm thần” cho năm học 2019-2020, tài liệu lưu hành nội bộ cho sinh viên năm thứ 3, là từ cuốn “Tâm lý học căn bản” của ông, bản dịch của Minh Đức- Hồ Kim Chung. (Đối chiếu với thông tin trên, bản dịch tiếng Việt không thấy được liệt kê, và bản dịch này có nhiều từ Hán Việt nên khi đọc tôi cứ có cảm giác mình đang đọc sách từ trước năm 1975)

Hi vọng các nhà chuyên môn và các bạn muốn tìm hiểu nền tảng tâm lý lâm sàng có thể tham khảo và tìm thông tin hữu ích.

Vị thành niên- bài 3 phần 1

Bài 3 phần 1: Thay đổi mối quan hệ — cha mẹ và bạn bè đồng trang lứa

Bài viết này vẫn biên soạn dựa chủ yếu theo tác giả Peter K. Smith. Tác giả Peter K. Smith đề cập đến khá nhiều các nghiên cứu ở cộng đồng người châu Á hơn so với các tác giả khác mà tôi tham khảo, nên các số liệu có vẻ gần gũi hơn với chúng ta chăng?

Tuy nhiên, tôi không đi vào trình bày ngay về các lý thuyết tâm lý để mô tả các khái niệm hay các chức năng tâm lý cơ bản, điều mà nếu bạn đọc là nhà chuyên môn sẽ quan tâm. Nhưng các cha mẹ Việt, những người ít được trang bị kiến thức tâm lý học cơ bản, sẽ cảm thấy khó theo dõi. Tôi sẽ đề cập đến các lý thuyết của Jean Piaget, Lawrence Kohlberg, and Erik Erikson trong một hệ thống bài viết khác, mà tôi đã bắt đầu khi biên soạn trong giáo trình “Sức khỏe tâm thần”, cho năm học 2019-2020, tài liệu lưu hành nội bộ cho sinh viên năm thứ 3.

Tuổi mới lớn là giai đoạn có nhiều thay đổi trong mối quan hệ với cha mẹ cũng như với bạn bè đồng trang lứa. Một quan điểm truyền thống, đơn giản là các mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa trở nên có ảnh hưởng hơn, và mối quan hệ với cha mẹ ít hơn trong những năm nhi đồng. Điều này bao hàm sự kiện: vị thành niên ngày càng trở nên độc lập với cha mẹ và dành nhiều thời gian hơn trong các nhóm đồng trang lứa trong cùng độ tuổi. Tuy nhiên, bức tranh không thể tránh khỏi phức tạp, và thay đổi trong các bối cảnh văn hóa và giai đoạn lịch sử khác nhau.

Cha mẹ

Một thay đổi trong mối quan hệ với cha mẹ, nói chung là sự gần gũi về tình cảm. Các độc giả là nhà chuyên môn sẽ liên hệ với chức năng tâm lý cơ bản của thời thơ ấu là ‘mối quan hệ gắn bó’. Sự thay đổi đã được ghi lại rõ ràng trong một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, báo cáo xếp hạng về mức độ gần gũi của những người trẻ tuổi với cha mẹ, ở độ tuổi 10, 16 và 25. Các phát hiện cho thấy rõ ràng rằng trẻ vị thành niên không đánh giá mình gần gũi với cha mẹ như những đứa trẻ nhi đồng hoặc thanh niên. Xếp hạng về mức độ gần gũi với mẹ cao hơn so với mức độ gần gũi với cha, nhưng đối với cả cha và mẹ, mức độ gần gũi đã giảm ở năm 16 tuổi, khoảng 1 hoặc 1,5 điểm trên thang điểm 7. Một khía cạnh thú vị của nghiên cứu này là một khía cạnh bổ sung mang tính lịch sử. Có dữ liệu cho hai nhóm theo năm sinh: một tập hợp dữ liệu cho những người sinh năm 1925–39 (là vị thành niên trong những năm 1940–50) và một nhóm thứ hai dành cho những người sinh trong giai đoạn 1950–59 (là vị thành niên niên trong những năm 1960–70). Có một khoảng cách gần gũi hơn ở nhóm trước, có lẽ bởi vì so với những năm 1940 và 1950, những năm 1960 có sự kiện đáng chú ý là phản đối xã hội xung quanh Chiến tranh Việt Nam, trong đó những người trẻ tuổi đóng một vai trò nổi bật.

[Không nên phóng đại sự xa cách này với cha mẹ. Với cha mẹ Việt, đối tượng mà tôi làm việc khá nhiều trong chủ đề trẻ vị thành niên, tôi nhận thấy, sự xa cách này thực sự gây tổn thương cha mẹ Việt trong những năm đầu thập niên trước, và giảm đi ở cuối thập niên. Có thể cha mẹ Việt đã bắt đầu quen hơn với đặc điểm tâm lý này, điều mà không xảy hoặc rất ít xảy ra ở Việt Nam thời kì trước mở cửa. ]

Trong nghiên cứu trên, xếp hạng trung bình về mức độ gần gũi vẫn ở mức tích cực. Kết quả cho thấy rằng hầu hết trẻ vị thành niên luôn duy trì mối quan hệ tốt với cha mẹ và vẫn coi cha mẹ như những nguồn hỗ trợ và tư vấn về mặt tinh thần. Tuy nhiên, những thay đổi trong giai đoạn này là có thật và nhiều bậc cha mẹ có thể trải nghiệm được. Những thay đổi này có thể liên quan đến việc sắp đến tuổi dậy thì, vì chúng dường như liên quan chặt chẽ đến thời gian dậy thì hơn là tuổi theo thời gian. Chúng cũng liên quan đến những thay đổi của não tại thời điểm này và những thay đổi về nhận thức, đặc biệt là việc tìm kiếm danh tính và quyền tự chủ. Sự thay đổi sinh lý đã có những ảnh hưởng rõ nét đến các chức năng tâm lý với sự công nhận bằng chứng này. Các chỉ số về những thay đổi tâm lý bao gồm các vấn đề xung quanh niềm tin và sự bộc lộ; và xung đột giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên.

Tin tưởng và bộc lộ

Người trẻ tin tưởng ở mức độ nào ở cha mẹ để họ sẵn sàng bộc lộ những lo lắng và băn khoăn của họ, và nhận hoặc xin lời khuyên? Một sự khác biệt phổ biến được thực hiện ở đây là giữa ‘mối quan tâm thận trọng’ và ‘mối quan tâm cá nhân’. Các mối quan tâm thận trọng liên quan đến các hành vi nguy cơ như dùng chất hoặc nói chuyện với người lạ trên internet. Mối quan tâm cá nhân liên quan đến những lựa chọn bình thường không có rủi ro, chẳng hạn như lựa chọn bạn bè hoặc cách dành thời gian giải trí của một người. Khi được hỏi, trẻ vị thành niên thường nói rằng họ nên nói chuyện với cha mẹ về những mối quan tâm thận trọng, trong khi nói về những mối quan tâm cá nhân không được coi là quá cần thiết. Nhưng hành vi thực tế của họ thường không tương ứng với những gì họ cảm thấy phải làm. Họ ít bộc lộ về những mối quan tâm thận trọng của họ, bởi vì họ sợ bị từ chối, trừng phạt hoặc áp đặt. Họ sẽ cố gắng tránh nói dối cha mẹ, nhưng để tránh bộc lộ đầy đủ các hoạt động rủi ro, họ có thể sử dụng các chiến lược như né tránh vấn đề, một chiến lược mang tính phòng vệ, chỉ nói nếu được hỏi trực tiếp và bỏ qua các chi tiết quan trọng. Chiến lược phòng vệ được thực thi ở đây phản ánh sự phát triển nhận thức đang trên đà, mà chưa đầy đủ. Giáo dục tâm lý cho trẻ ở giai đoạn này chắc chắn nên đề cập đến- một chương trình mà tôi kì vọng có thể thực hiện cho các trẻ ở tầm lớp 8 và lớp 10.

Một nghiên cứu đã so sánh những phát hiện này, từ nhiều kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ, với hành vi của trẻ vị thành niên khoảng 16 tuổi ở Nhật Bản. Một mô hình rất giống nhau đã được tìm thấy. Trẻ cảm thấy có nghĩa vụ bộc lộ các vấn đề thận trọng hơn (ở Nhật Bản, những vấn đề này bao gồm uống rượu sake và đi đến các trung tâm trò chơi điện tử), nhưng thực tế bộc lộ những vấn đề này ít thường xuyên hơn so với các vấn đề cá nhân, do trẻ cảm thấy ít tính nghĩa vụ hơn. Mặc dù cấu trúc của các phát hiện khá giống nhau, tỷ lệ bộc lộ thực tế và bộc lộ nghĩa vụ ở người Nhật thấp hơn đáng kể so với trẻ vị thành niên Hoa Kỳ, có lẽ vì mối quan tâm lớn hơn đó là tránh phá vỡ sự hòa hợp gia đình trong văn hóa Nhật Bản, một sự tương đồng với văn hóa Việt Nam.

Xung đột giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên

Một biểu hiện khác của sự xa cách giữa cha mẹ và con cái là sự gia tăng các xung đột. Một đánh giá cho rằng tần suất xung đột cao nhất ở giai đoạn đầu tuổi vị thành niên, trong khi cường độ xung đột cao nhất ở những năm giữa tuổi vị thành niên. Một số nghiên cứu đã được thực hiện về những xung đột như vậy là gì. Ví dụ, một nghiên cứu về trẻ vị thành niên người Mỹ gốc Phi 11-14 tuổi ở Hoa Kỳ cho thấy xung đột thường xuyên nhất là về làm việc nhà (21%), lựa chọn hoạt động (17%) hoặc các vấn đề về mối quan hệ giữa các cá nhân, chẳng hạn như lựa chọn bạn bè (17%), tiếp theo là tình trạng phòng ở của trẻ (13%), bài tập ở trường (10%), thời gian đi ngủ (9%), ngoại hình (6%), và tiền (5%). Một nghiên cứu tương tự sau đó đã được thực hiện với những đứa trẻ 11-18 tuổi ở Hồng Kông và ở Thâm Quyến, Trung Quốc. Ở cả hai địa điểm, mô hình xã hội hóa truyền thống của Trung Quốc chú trọng nhiều hơn đến nghĩa vụ gia đình và trách nhiệm đối với người lớn tuổi hơn so với ở các nước phương Tây. Cha mẹ Việt có thể thấy bản thân mình cũng có phần nào tương tự. Nhưng chúng ta cũng cần chú ý, Hồng Kông thuộc Anh trong nhiều năm lịch sử, còn Thâm Quyến thuộc Trung Quốc, và có sự khác biệt văn hóa, ngay cả trong những năm đầu Hồng Kông thuộc về Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều xung đột lại xảy ra về việc lựa chọn hoặc quy định các hoạt động (sử dụng điện thoại, xem TV, giờ đi ngủ) và làm việc nhà. Một số xung đột cũng là về tiền bạc và ngoại hình / sức khỏe. Ở Thâm Quyến, có nhiều xung đột hơn về thành tích (học tập, làm bài tập về nhà), tập trung nhiều hơn vào tầm quan trọng của điểm tốt ở trường; có ít xung đột giữa các cá nhân hơn về mối quan hệ với cha mẹ, anh chị em và bạn bè, có lẽ vì hầu hết trẻ vị thành niên ở trong các gia đình một con và không có anh chị em nào để cãi vã.

Các nghiên cứu này đã sử dụng các cuộc phỏng vấn với một số lượng lớn những người trẻ tuổi để hỏi về các xung đột. Theo một cách tiếp cận khác, các nhà nghiên cứu ở Hà Lan đã thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu với chỉ mười bảy cô gái, trong hơn một năm. Họ 15 tuổi khi nghiên cứu bắt đầu, và họ được yêu cầu ghi chép nhật ký về những xung đột với mẹ của mình. Họ đã làm điều này trong chu kì hai tuần, sáu tuần một chu kì. Họ có thể ghi lại các cuộc xung đột online hoặc viết vào một tập sách nhỏ, và họ nhận được một phần thưởng nhỏ cho mỗi tuần hoàn thành. Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã phân loại tổng số 147 xung đột được ghi nhận thành 5 loại chính: tự chủ (ví dụ: khi nào đi ngủ, khi nào làm bài tập về nhà; 51%); không giống tôi (sự khác biệt giữa cách cô gái nhìn nhận bản thân và cách cô ấy được mẹ cô ấy nhìn và phản ứng; 20%); sự phụ thuộc (con gái muốn giúp đỡ hoặc lời khuyên từ mẹ; 13%); không công bằng (con gái cảm thấy mình bị đối xử bất công; 9%); và các xung đột trong phạm vi nhỏ (ví dụ: chải tóc đau đớn, làm mất hộp bánh sandwich; 7%). Những xung đột này tạo ra một loạt các phản ứng cảm xúc, chẳng hạn như cảm thấy tức giận, thất vọng, xấu hổ, bị hiểu lầm, không được coi trọng. Nói chung, những cô gái có nhiều xung đột hơn trong năm cho biết có nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau hơn. Nhưng các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng đối với một số ít các cô gái thuộc nhóm cho biết có nhiều xung đột nhất, thì điều này không đúng. Những cô gái này cho biết có xung đột trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có cùng trạng thái cảm xúc. Những cô gái này và mẹ của họ dường như bị ‘bắt’ trong một khuôn mẫu cứng nhắc là tái hiện cùng một loại xung đột, với cùng kết quả, trong suốt cả năm. Khi làm việc với cha mẹ Việt, tôi cũng thấy hiện tượng này. Tuy nhiên, đối với hầu hết các cô gái, có nhiều sự thay đổi và linh hoạt hơn.

Những nghiên cứu này cho thấy rằng cha mẹ của trẻ vị thành niên có một ranh giới tốt để thực hiện— một số quy tắc là quan trọng, không thay đổi, nhưng thảo luận và linh hoạt để thừa nhận cảm xúc và mong muốn của chính trẻ cũng cần thiết. Đối với các cha mẹ Việt, trong thời gian qua, do ảnh hưởng của khuynh hướng giáo dục thuận theo tự nhiên, một số cha mẹ bỏ qua việc thiết lập ranh giới này, một trong những lý do dẫn đến một số rối loạn của trẻ, trong đó điển hình là vấn đề lạm dụng internet. Tôi cũng sẽ đề cập tường tận hơn trong bài viết về chẩn đoán ‘nghiện game’. Ở đây lưu ý các cha mẹ và nhà chuyên môn, trong DSM 5, phần phân loại chính thức không có chẩn đoán này, mà nó chỉ xuất hiện trong phần phân loại mang tính văn hóa, do các nhà Tâm thần học Trung Quốc đề nghị.

Một lĩnh vực mà xung đột giữa cha mẹ và vị thành niên thường khó tránh là xung quanh giờ đi ngủ của trẻ vị thành niên.

Lịch đi ngủ ở tuổi vị thành niên

Mô hình giấc ngủ thay đổi qua tuổi vị thành niên theo hai cách quan trọng. Đầu tiên là cái được gọi là sở thích chậm trễ: trẻ vị thành niên đi ngủ muộn hơn và dậy muộn hơn vào buổi sáng, đặc biệt là vào cuối tuần. Điều này đã được cho là một hệ quả tự nhiên của những thay đổi sinh học liên quan đến tuổi dậy thì. Một cơ chế điều hòa nhịp ngày đêm ở vùng dưới đồi duy trì trạng thái tỉnh táo muộn hơn vào buổi tối so với trường hợp thời thơ ấu, một xu hướng bắt đầu đảo ngược ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, thâm chí có thể diễn ra sớm hơn, do ảnh hưởng của sinh hoạt chung trong gia đình. Thay đổi thứ hai là một phần của xu hướng liên tục hơn từ thời thơ ấu trở đi và đến tuổi trưởng thành là giảm thời lượng ngủ. Tuy nhiên, trẻ vẫn cần ngủ nhiều hơn người lớn, và việc đi ngủ muộn có nghĩa là họ thường ngủ ít hơn mức cần thiết.

Paul Kelley, một nhà nghiên cứu trước đây là giáo viên chủ nhiệm tại một trường trung học ở miền bắc nước Anh, đã lập luận rằng lịch trình của người lớn không phản ứng với những thay đổi trong cách ngủ mà trẻ vị thành niên đang trải qua. Kết quả của thời gian bắt đầu đi học bình thường là 9 giờ sáng và trẻ thường thiếu ngủ, gây hậu quả bất lợi cho việc học, cáu gắt ở trường vào buổi sáng và tăng khả năng xung đột với giáo viên. Trong khi là một hiệu trưởng, ông đã thử hiệu quả của việc bắt đầu đi học lúc 10 giờ sáng và báo cáo kết quả rất tích cực, cả về mặt học tập và bầu không khí trong trường thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Các trường quốc tế ở Việt Nam hiện nay bắt đầu khung giờ 8g30. Và như tôi biết, Anh, Mỹ và Pháp cũng vẫn bắt đầu với khung giờ này, có thể là do sự hợp lý tương quan với hoạt động chung của xã hội. 

Gia đình và trường học

Nghiên cứu về giờ đi ngủ minh họa cách thức thực hành gia đình có thể ảnh hưởng đến cuộc sống ở trường. Một nghiên cứu ở Mỹ đã sử dụng dữ liệu nhật ký hàng ngày trong khoảng thời gian hai tuần để kiểm tra điều này. Cha mẹ và trẻ vị thành niên (khoảng 15 tuổi) đã báo cáo về các xung đột, và trẻ vị thành niên cũng báo cáo về tâm trạng hàng ngày với các vấn đề ở trường (chẳng hạn như đi học muộn hoặc bị điểm kém). Xung đột giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên dự đoán các vấn đề ở trường vào cùng một ngày và kéo dài đến hai ngày sau đó. Ngược lại, các vấn đề ở trường cũng dự đoán xung đột ở nhà. Điều thú vị là, xung đột giữa phụ huynh với nhau không dự đoán được các vấn đề ở trường học, ít nhất là không nằm trong phạm vi thời gian của nghiên cứu này; ảnh hưởng chỉ giới hạn trong xung đột với trẻ vị thành niên. Tâm trạng tiêu cực được báo cáo bởi trẻ vị thành niên dường như chiếm phần lớn cái mà các tác giả gọi là ‘hiệu ứng lan tỏa’ giữa gia đình và trường học.

Các mạch trong đào tạo y khoa

  • Chương trình đào tạo bác sĩ 6 năm chỉ là chương trình lý thuyết. Thực hành của nó vẫn chỉ là lý thuyết về thực hành, không thể là thực hành thực sự vì:

+ trong bối cảnh yêu cầu khối lượng kiến thức đã lớn hơn và chuyên khoa hóa sâu hơn so với thời mình học đại học 89-95, sinh viên cần có đủ thời gian để học lý thuyết

+ kiến tập là nguyên tắc chủ đạo: cái này là theo thế giới. Và mình cho là ảnh hưởng đến đạo đức hành nghề. Môn Y Đức thì không đi dạy cái này, chứ đạo đức hành nghề đã là một nội dung rất quan trọng trong nhiều ngành. Hiện đã có thực hành nghề 18 tháng để đảm bảo nội dung thực hành thực sự.

  • Trong các ngành lâm sàng nội, mình lấy 2 ngành đứng ở vị trí là ngành điều trị, vì nội dung bệnh học của nó lấy từ các ngành lâm sàng còn lại, đó là Hồi sức cấp cứu và Phục hồi chức năng. Nội dung phân chia đương nhiên không thể là tuyệt đối, và không có phân chia cứng nhưng đại thể có thể tạm chia:

+ các ngành lâm sàng xoay quanh Hồi sức cấp cứu: Tim mạch, Hô hấp, Thận tiết niệu, Nội tiết chuyển hóa, Tiêu hóa, .

+ các ngành lâm sàng xoay quanh Phục hồi chức năng (trong YHCT thì Châm cứu và Xoa bóp bấm huyệt cũng thuộc PHCN là chính): Cơ xương khớp, Thần kinh, Tâm thần

Hi vọng sẽ có thêm hiểu biết về đào tạo Y khoa mang tính quốc tế để tham khảo.

vấn đề khuôn mẫu

https://vnexpress.net/warren-buffett-neu-ly-do-khien-mot-doanh-nghiep-that-bai-4274637.html

Nhân đọc bài viết này, tôi muốn đề cập đến một khía cạnh của nó.

Trong nhiều năm, chúng ta nói chung, đi riêng một con đường. Khi chúng ta hòa nhập thế giới, các vấn đề khoa học tự nhiên bộc lộ rõ các chệch hướng. Tuy nhiên, nó có vẻ dễ dàng được chỉnh sửa theo cách riêng của nó, vì ít bị (chỉ là ít) ảnh hưởng của các yếu tố xã hội. Mà các yếu tố xã hội mới là sự khác biệt ‘khó ưa’, vì bản thân nó nằm trong chính chúng ta. Thế mà muốn đi với nhau, con đường phải giống nhau. Mà để giống nhau, dễ hơn cả là đi từ vẻ bề ngoài.

Một lập luận đáng chú ý là “hình thức và nội dung luôn có sự thống nhất với nhau”. Nếu chỉ đơn giản dùng lập luận này thì dĩ nhiên việc áp dụng các ‘quy trình’ là điều kiện cần và đủ. Xong thật ra, nó chỉ là điều kiện cần. Các CEO mà Warren nói tới đạt điều này. Điều kiện đủ, hay nội dung khó hơn nhiều

Vậy bản chất sự sai lầm này là gì? Đó là xem điều kiện cần như là “đã đủ”. Bề ngoài chỉ là điều kiện cần. Bản thân nó không thể làm ‘đủ’.

Vị thành niên- Bài 2

Bài 2: dậy thì- sự thay đổi ở cơ thể và não bộ

Bài viết này vẫn biên soạn dựa chủ yếu theo tác giả Peter K. Smith. Tuy nhiên có một ví dụ có thể khá thú vị, khi chúng ta đang bàn bạc về khía cạnh liên quan đến giới tính trong tuổi vị thành niên, bạn đọc có thể tham khảo:

https://vnexpress.net/co-be-chuyen-gioi-nho-tuoi-nhat-nuoc-anh-4274559.html

Đọc tiếp “Vị thành niên- Bài 2”

Vị thành niên

Khoa Sức khỏe vị thành niên, được đặt tên bao gồm “vị thành niên”, cũng là một cách đặt tên đặc thù cho các khoa lâm sàng, vì đã có tiền lệ là khoa “Sơ sinh”, khoa “Lão” …, nghĩa là đặt tên theo một giai đoạn phát triển của cuộc đời, mới ra đời ở Bệnh viện Nhi Trung Ương, có nghĩa là nó chưa được phổ biến ở Việt Nam. 

Đọc tiếp “Vị thành niên”