Tâm lý học căn bản- các quy luật Gestalt

Chúng ta sẽ tìm hiểu một chút về các quy luật có từ thế kỷ 19 này, và xem xét chúng trong tiến trình nhận thức tổng thể hơn với đặc điểm là  xử lý thông tin trên xuống.

Quy luật về tính trọn vẹn của tri giác- tính khép kín (closure) của cấu trúc

Trong quá trình tri giác, các thuộc tính bên ngoài, cụ thể của sự vật, hiện tượng luôn được con người phản ánh trong một kết cấu chặt chẽ, theo một cấu trúc nhất định. Sự tổng hợp này được dựa trên cơ sở phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan phân tích, nhờ đó tạo một hình ảnh trọn vẹn về đối tượng.

Tính trọn vẹn của tri giác có được là nhờ kết cấu nhất định của bản thân sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan, kết hợp với vốn kinh nghiệm của con người về đối tượng vào khả năng phân tích, tổng hợp của vỏ não… Điều đó có nghĩa là khi ta được tiếp xúc với càng nhiều thuộc tính, bộ phận của sự vật thì ta càng dễ dàng, nhanh chóng tạo ra được hình ảnh tương đối đầy đủ về chúng. Mặt khác, khi có nhiều kinh nghiệm về đối tượng nào đó thì chỉ cần dựa vào một số ít thuộc tính, bộ phận của chúng, ta vẫn có thể tri giác được đó là sự vật hay hiện tượng gì.

Hình minh họa cho tính trọn vẹn của tri giác

(Thoạt nhìn, hình trên trông như những vết lốm đốm mà không ra một hình thù nào cả. Nhưng sau khi nhìn kỹ lại, ta có thể thấy hình của một con chó.)

Những người có thính giác bình thường, phát triển các chiến lược để hiểu được lời nói trong ngữ cảnh và bộ não của chúng ta có thể tự động điền vào các âm vị, hình vị bị thiếu. Trẻ sơ sinh đang học nói và ngôn ngữ cần phải nghe được tất cả các tần số âm thanh để học cách phân biệt và lưu giữ các nhận thức này.

Quy luật về tính lựa chọn của tri giác- quy luật hình/nền (figure/background)

Tính lựa chọn của tri giác thể hiện sự chú ý của con người đối với các sự vật, hiện tượng đang tri giác, thể hiện trạng thái có ý thức trong hoạt động nhận thức.

Trên thực tế, trong cùng một lúc có rất nhiều sự vật, hiện tượng tác động đến các giác quan của chúng ta. Chú ý chọn lựa (selective attention) là tiến trình nhận thức có chọn lựa loại kích thích nào phải chú ý đến. Chúng ta đặc biệt chú ý đến các loại kích thích tỏ ra đặc biệt tương phản nhau về mức độ sáng, bề rộng, mức độ ồn ào, mức độ mới lạ, hoặc mức độ cao thấp. Chúng ta cũng chú ý nhiều đến các kích thích có ý nghĩa đặc biệt phù hợp với các kỳ vọng riêng tư của chúng ta. Thí dụ, khi đói chúng ta sẽ dễ cảm nhận các kích thích do thức ăn và các sự vật liên hệ đến thức ăn gây ra.

                  

Hình ảnh minh họa cho tính lựa chọn của tri giác

     Hãy xem hình trên đây:

(A) là hình không rõ ràng, khi thì nó trông như là hình một cô gái trẻ, khi thì trông như là hình một bà già.

(B) và (C) thì tương đối rõ ràng hơn, hai bức tranh đã mô tả rõ nét hai hình ảnh: một là hình ảnh của cô gái trẻ, một là hình ảnh của bà già.

Người ta không phản ứng thụ động đối với các kích thích, với tri giác thị giác, người ta cố gắng tách biệt hình ảnh (figure) ra khỏi nền (background) của nó. Thực chất của quá trình tri giác tích cực là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh xung quanh. Vì vậy, những sự vật (hay thuộc tính của một sự vật) càng phân biệt với bối cảnh thì ta tri giác nó càng dễ dàng. Trong quá trình tri giác, do có tính lựa chọn mà đối tượng và bối cảnh tri giác có thể hoán đổi cho nhau: một vật nào đó vào lúc này là đối tượng, lúc khác có thể trở thành bối cảnh và ngược lại, một vật lúc này là bối cảnh, lúc khác lại có thể trở thành đối tượng.

Trong lĩnh vực thính giác, các nhà tâm lý đã xây dựng một phương pháp gọi là nghe rẽ đôi (dichotic listening) trong đó một người mang hai tai nghe, mà mỗi bên tai, cùng một lúc được nghe một thông điệp khác biệt với bên tai kia để tìm hiểu quy luật tri giác này. Người đó được yêu cầu lặp to lại một trong các thông điệp khi nó vào đến một bên tai – tiến trình này gọi là bắt bóng (shadowing), bởi vì giọng nói của người nghe ấy tác động như một cái “bóng” âm thanh của thông tin đang được truyền đến. Hầu hết mọi người đều làm được khá dễ dàng.

Quy luật về tính giản lược của tri giác

Kết quả của quá trình tri giác là con người đã tạo ra được hình ảnh trọn vẹn của một sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới khách quan. Hình ảnh này bao giờ cũng có một ý nghĩa đơn giản nhất. Điều đó thể hiện qua việc con người gọi được tên hoặc sắp xếp đối tượng tri giác vào một nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại, chỉ ra được công cụ, ý nghĩa của nó đối với hoạt động và đời sống của con người. Quy luật giản lược này được thể hiện qua các tính chất sau:

Tính đồng dạng (similarity) đề cập đến xu hướng tri giác những thứ trông giống như là một phần của cùng một nhóm. Khi các thành viên của một đội thể thao mặc đồng phục có cùng màu, nó cho phép mọi người xem trò chơi cảm nhận họ như một nhóm ngay cả khi họ nằm rải rác trên sân hoặc sân đấu.

Tính tương cận (proximity) Một quy tắc tri giác rất đơn giản khác là xu hướng nhận thức các đối tượng gần nhau như là một phần của cùng một nhóm, một nguyên tắc gọi là sự gần gũi hoặc gần kề.

Tính tiếp tục (continuity) dễ hiểu khi nhìn thấy hơn là khi giải thích bằng lời. Nó đề cập đến xu hướng nhận thức mọi thứ một cách đơn giản nhất có thể với một mẫu liên tiếp hơn là với một mẫu bị phá vỡ hay phức tạp.

Tính liên tiếp (contiguity) được thể hiện không chỉ liên quan đến gần về không gian mà còn gần về thời gian. Về cơ bản, sự liên tiếp là xu hướng nhận thức hai điều xảy ra gần nhau trong thời gian là có liên quan. Thông thường sự kiện xảy ra đầu tiên được coi là gây ra sự kiện thứ hai. Người nói tiếng bụng tạo ra giọng hát mà không di chuyển miệng của họ làm cho mọi người có xu hướng tin rằng hình nộm đang thực hiện việc hát là do sự liên tiếp (hình nộm mấy máy môi và giọng hát đi tiếp ngay sau). Các quy luật giản lược này hiện cũng được giải thích bởi chức năng điều hành có hạn chế dung lượng trong xử lý thông tin và số lượng chú ý luôn có giới hạn.

Đăng bởi anhdo73

Hoạt động can thiệp đa ngành: Tâm lý lâm sàng, Tâm thần, Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền

Bình luận về bài viết này