Giới thiệu bản thân- tính ngữ dụng

Trong phần mở đầu của các bài giảng của các chuyên gia nước ngoài mà tôi được tham dự, thường có vài slide giới thiệu về quá trình đào tạo, nơi làm việc, thậm chí một vài thông tin riêng tư như về gia đình, ảnh chụp nơi ở… Tôi thường nghĩ, ồ, chỉ là một cách làm quen mềm mại. Tuy nhiên, sau một thời gian đi sâu về chủ đề “ngữ dụng”, tôi chợt nhận ra ý nghĩa của các phần giới thiệu này, khi mà thông tin nó mang lại, không phải chỉ để làm quen, mà là cho người nghe/ người học hình dung được những hàm ý trong quan điểm của người trình bày.

Trong tranh luận, chúng ta hay lên án việc ‘bỏ bóng đá người’, nghĩa là không tranh luận về quan điểm khoa học mà đi chỉ trích cá nhân. Nhưng ranh giới giữa điều xấu, như trên vừa nói, với điểm tốt, là quan điểm đó mang những hàm ý gì, có cở sở gì từ những đặc điểm cá nhân của người phát biểu, là mong manh, nhưng không phải là không thể làm rõ được. Kết quả của những yếu tố cá nhân như vậy, chẳng phải đã mang lại những ý tưởng sáng tạo, mà tâm lý học hiện tại đã khẳng định, chúng vẫn xuất phát từ những gì đã trải nghiệm của con người.

Và tôi thấy, mình vẫn nên cố gắng mô tả chính xác nhất có thể về bản thân, không phải để nuôi hi vọng mình sẽ phát minh ra cái gì đó, mà như mục tiêu của blog này, cung cấp các tham khảo cho người đọc, trong đó ắt phải bao gồm bối cảnh của bản thân người phát biểu.

1989- 1995: Học y khoa tại Đại học Y Hà Nội. Đây là khóa học 6 năm, với 2 năm cuối được đào tạo chuyên ngành Y học cổ truyền ( YHCT ) và được cấp bằng bác sĩ chuyên ngành YHCT

1995-1996: NGO Trung tâm chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi thuộc Hội chữ thập đỏ Việt Nam

1998- 2005: bác sĩ điều trị tại khoa Y học dân tộc, bệnh viện Thanh Nhàn

2002-2004: master chuyên ngành YHCT

2005 đến nay: làm việc tại Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam, tiền thân là trường Trung cấp YHCT Tuệ Tĩnh. Đã tham gia giảng dạy phân môn Tổ chức Y tế cho hệ trung cấp, phân môn Y lý cho hệ bác sĩ chuyên khoa YHCT

2009- 2013: thực hành lâm sàng tại Viện sức khỏe Tâm thần Quốc gia, bệnh viện Bạch Mai, học khóa học định hướng và khóa học BSCK 1 chuyên ngành Tâm thần

2011: bắt đầu giảng dạy phân môn Tâm thần tại Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam

2018: tham gia khóa học Ngôn ngữ trị liệu Nhi 10 tháng của Đại học Y Phạm Ngọc Thạch

2 lần tham gia khóa học Chuyên khoa 2, chuyên ngành Tâm thần, 1 lần là vào năm 2017 của Đại học Y Hà Nội, 1 lần là vào năm 2020 của Đại học Y Hải Phòng. Nhưng cả 2 lần tôi đều không hoàn thành khóa học, dù đã thi xong đầu vào. Lý do chủ yếu là sức khỏe bản thân và chuyện gia đình, nhưng một phần nữa là tôi không tìm thấy câu trả lời cho những vấn đề cơ bản mà tôi theo đuổi.

Năm 2004, khi tham gia khóa học master chuyên ngành YHCT, tôi đã nghe thày hướng dẫn của mình nói về khuynh hướng can thiệp đa ngành trong xu hướng nghiên cứu của Trung Quốc. Nhưng tôi đã không thể hình dung về điều này cho tới khi tham gia khóa học Ngôn ngữ trị liệu Nhi của Đại học Y Phạm Ngọc Thạch năm 2018. Việc tiếp cận các thông tin về khái niệm can thiệp đa ngành là khó khăn, khi mà đào tạo y khoa, lĩnh vực mà tôi theo đuổi hơn 15 năm nay, luôn vẽ ra một cấu trúc trong đó các chuyên ngành được tạo thành các khối tách biệt, ngay kể cả khi các khối này đã bao hàm những chuyên đề của khối khác (vì vấn đề này còn bị ảnh hưởng bởi cơ cấu quản lý ngành nghề về mặt hành chính của Bộ Y tế- và chữ “tách biệt” dùng ở trên hàm ý về việc ‘ngăn chặn’ việc mở rộng phạm vi hoạt động chuyên môn trong thực hành nghề). Kể từ 2018 tới nay, câu hỏi về “tính chất can thiệp đa ngành” trở thành chủ đề chính trong định hướng nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm sàng của tôi.

Tâm lý học- Học gì?

Ngày 30/5 RMIT có một hội thảo online nhằm quảng bá chương trình đào tạo cử nhân Tâm lý học. Tôi được giới thiệu khá sớm, nhưng lại làm đăng kí muộn quá, nên không nhận được thư mời tham dự. Nhưng khi tham khảo chương trình học, tôi nhận thấy, bảng liệt kê chương trình học này rất đáng để phụ huynh và học sinh tham khảo. 

Tôi cũng được nghe vài nhận xét về hội thảo này, rằng học sinh Việt không có được những câu hỏi cho thấy sự tìm hiểu về những khái niệm cơ bản trong Tâm lý học hiện đại, để có thể tham khảo xem liệu chương trình học sẽ mang lại những thu hoạch gì. Vì thế,  ngoài chương trình học 3 năm, bậc cử nhân, của RMIT, tôi xin liệt kê ở đây nội dung chương trình Tâm lý học cho cấp học phổ thông ở Mĩ, để bạn đọc có thể tìm kiếm tài liệu, tham khảo kĩ hơn về nội dung mà ngành Tâm lý học đề cập đến. 

Trong cả 2 chương trình này, tôi xin được lưu ý với các bạn về nội dung “phương pháp nghiên cứu”. Nội dung này thực sự hữu ích về mặt tư duy, giống như cách phụ huynh Việt hiểu và đôn đốc con cái học môn Toán vậy. Thực sự thì nền tảng cơ bản của môn môn này chính là Toán xác xuất- thống kê, nhưng môn học còn nêu các vấn đề phương pháp luận khác, khi ứng dụng Toán trong lĩnh vực Y sinh.

Một nội dung khác, mà tôi nghĩ là khá thú vị, vì dễ hình dung hơn và gần gũi hơn với các bạn học sinh Việt, là Tâm lý sinh học. Nội dung này cũng rất thú vị với sinh viên y khoa, vì các bác sĩ tương lai được học khá nhiều, chỉ là chưa biết nó có ý nghĩa ứng dụng thế nào trong lĩnh vực Tâm lý học mà thôi. Cũng như, mối liên quan đa ngành sâu sắc giữa 3 nội dung của y học (Tâm thần- Thần kinh- Phục hồi chức năng) và Tâm lý học được dẫn dắt qua phần này rất rõ ràng. Về cơ bản, nó là các kiến thức sinh học, về giải phẫu, sinh hóa và sinh lý hệ thần kinh, mà chủ yếu là phần thần kinh trung ương. Phần này, e là các chương trình cử nhân Tâm lý của Việt Nam khá yếu, do chúng ta yếu về các ứng dụng công nghệ hình ảnh trong các hoạt động tinh thần của bộ não, và cập nhật rất chậm về phần này.

Chương trình Tâm lý cho chứng chỉ AP-  soạn theo David G. Myers 2014

Bài I Lịch sử và phương pháp tiếp cận của Tâm lý học 

Bài này có 3 chủ đề: Lịch sử Tâm lý học; Các vấn đề lớn và cách tiếp cận của Tâm lý học; Nghề nghiệp trong Tâm lý học

Bài II Phương pháp nghiên cứu: Suy nghĩ phản biện với khoa học tâm lý

Bài này có 5 chủ đề: Nhu cầu về Khoa học Tâm lý; Phương pháp Khoa học và Mô tả; Tương quan và Thử nghiệm; Lập luận thống kê trong cuộc sống hàng ngày; Các câu hỏi thường gặp về Tâm lý học

Bài III Cơ sở sinh học của hành vi

Bài này có 7 chủ đề: Tâm lý sinh học và Sự dẫn truyền thần kinh; Hệ thống thần kinh và nội tiết; Nghiên cứu cấu trúc não và não cổ; Vỏ não; Tổ chức bán cầu não và Sinh học của Ý thức; Di truyền Hành vi: Dự đoán Sự khác biệt Cá nhân; Tâm lý học Tiến hóa: Hiểu Bản chất Con người

Bài IV Cảm giác và Tri giác

Bài này có 6 chủ đề: Các Nguyên tắc Cơ bản của Cảm giác và Tri giác; Ảnh hưởng đến Tri giác; Tri giác Thị giác; Tổ chức và Diễn giải Thị giác; Nghe; Các giác quan khác

Bài V Các trạng thái ý thức

Bài này có 4 chủ đề: Hiểu ý thức và Thôi miên; Các mô hình giấc ngủ và các lý thuyết về giấc ngủ; Thiếu ngủ, Rối loạn giấc ngủ và Giấc mơ; Thuốc kích thích tâm thần

Bài VI Học tập

Bài này có 5 chủ đề: Cách chúng ta học và điều kiện cổ điển; Điều kiện tạo tác; Các ứng dụng của Điều kiện tạo tác và So sánh với Điều kiện Cổ điển; Sinh học, Nhận thức và Học tập; Học bằng quan sát

Bài VII Nhận thức

Bài này có 6 chủ đề: Nghiên cứu và Xây dựng Ký ức; Lưu trữ và truy xuất bộ nhớ; Quên, Xây dựng Trí nhớ và Cải thiện Trí nhớ; Tư duy, Khái niệm và Sáng tạo; Giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định; Tư duy và Ngôn ngữ

Bài VIII Động lực, Cảm xúc và Căng thẳng

Bài này có 8 chủ đề: Khái niệm tạo động lực; Động lực Đói; Động cơ Tình dục; Động lực xã hội: Nhu cầu liên kết; Lý thuyết và Sinh lý học về Cảm xúc; Cảm xúc được thể hiện; Căng thẳng và Sức khỏe; Căng thẳng và Bệnh tật

Bài IX Tâm lý học Phát triển

Bài này có 10 chủ đề: Các vấn đề về Phát triển, Phát triển Trước khi sinh và Trẻ sơ sinh; Trẻ sơ sinh và Tuổi thơ: Phát triển Thể chất; Trẻ sơ sinh và Tuổi thơ: Phát triển Nhận thức; Trẻ sơ sinh và Tuổi thơ: Phát triển Xã hội; Phát triển giới; Cha mẹ, Đồng nghiệp và Trải nghiệm Ban đầu; Vị thành niên: Phát triển Thể chất và Nhận thức; Tuổi vị thành niên: Phát triển xã hội và Tuổi trưởng thành mới nổi; Phát triển Tình dục; Tuổi trưởng thành: Phát triển thể chất, nhận thức và xã hội

Bài X Nhân cách

Bài này có 5 chủ đề: Quan điểm phân tâm học của Freud: Khám phá vô thức; Lý thuyết Tâm động học và Quan điểm Hiện đại về Vô thức; Các lý thuyết nhân văn; Các lý thuyết về đặc điểm; Các lý thuyết về nhận thức-xã hội và khám phá bản thân

Bài XI Các trắc nghiệm và sự khác biệt cá nhân

Bài này có 5 chủ đề: Giới thiệu về Trí thông minh; Đánh giá trí thông minh; Động lực học của Trí thông minh; Nghiên cứu Ảnh hưởng của Di truyền và Môi trường đối với Trí thông minh; Sự khác biệt của Nhóm và Câu hỏi về Sự thiên vị

Bài XII Hành vi bất thường  

Bài này có 5 chủ đề: Giới thiệu về Rối loạn Tâm lý; Rối loạn lo âu, Rối loạn ám ảnh cưỡng chế và Rối loạn căng thẳng sau chấn thương; Rối loạn tâm trạng; Bệnh tâm thần phân liệt; Rối loạn Khác

Bài XIII Điều trị Hành vi Bất thường

Bài này có 4 chủ đề: Giới thiệu về Trị liệu, và Liệu pháp Tâm động học và Nhân văn; Liệu pháp Hành vi, Nhận thức và Nhóm; Đánh giá các liệu pháp tâm lý và các chiến lược phòng ngừa; Các liệu pháp Y sinh

Bài XIV Tâm lý xã hội

Bài này có 7 chủ đề: Phân bổ, Thái độ và Hành động; Tuân thủ và Tuân theo; Hành vi nhóm; Định kiến ​​và Phân biệt đối xử; Quyết đoán; Thu hút; Vị tha, Xung đột và Tạo dựng Hòa bình

Cấu trúc chương trình Cử nhân Khoa học Ứng dụng (Tâm lý học) của RMIT

Học kỳ 1

Nguyên lý cơ bản tâm lý học 

Tâm lý học tư duy thường ngày 

Lập trình thống kê

Học kỳ 2

Nền tảng tâm lý học 

Thống kê 

Tâm lý học đời sống xã hội

Học kỳ 3

Tâm lý học môi trường 

Các đề tài tâm lý học ứng dụng 

Môn tự chọn chung

Học kỳ 4

Tâm lý học phát triển

Tâm lý sinh học

Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học

Học kỳ 5

Tâm lý học nhận thức 

Tâm lý học xã hội

Động cơ và Tâm lý tổ chức

Học kỳ 6

Tâm lý học giới tính

Môn tự chọn chung

Học kỳ 7

Dự án nghiên cứu, HOẶC Thực tập chuyên ngành tâm lý học (WIL*)  

Học kỳ 8

Triết lý và phương pháp luận tâm lý học 

Đánh giá tâm lý và sự khác biệt cá nhân 

Nghiệp vụ tâm lý học 

Học kỳ 9

Tâm bệnh học và các dạng thức can thiệp

Hiểu về nhân cách

Tâm lý học pháp y

*WIL: Work Intergrated Learning – dự án học tập tích hợp kinh nghiệm thực tiễn

Tự kỉ và “lý thuyết về tâm trí”

Bài viết này giải thích nhiều khía cạnh của “thuyết về tâm trí’- ToM khi quan sát các hiện tượng tâm lý của trẻ với ASD. Nhiều chuyên viên khá quen thuộc với các hiện tượng này, vì được tập huấn nhiều trong các chương trình hướng dẫn lượng giá và can thiệp. Nhưng để hiểu một cách hệ thống, trong mối liên quan với ToM, và tìm hiểu thêm về một nhà nghiên cứu tiên phong của lý thuyết này, thì quả là còn ít tài liệu đề cập để tìm hiểu.

Ngoài ra, khoảng năm 2015- 2017, tôi thấy nhiều tranh luận trên các diễn đàn về trẻ với ASD, về khái niệm “chụp ảnh”, cho rằng trẻ ASD chỉ phát âm một từ mà không biết hiểu từ đó. Có lẽ tranh luận trên xuất phát từ một nội dung ở phần cuối của bài viết này chăng. Simon Baron-Cohen không được đề cập như một nhà can thiệp nên việc tác giả khuyến nghị về một phương pháp can thiệp thì hợp lý. Nhưng về hiện tượng tâm lý “chụp ảnh” này, thì bài viết có lời trình bày rõ ràng, giúp các nhà chuyên môn hiểu kĩ về chức năng tâm lý. Mặt khác, nội dung này tôi đã thử triển khai thành một nội dung để can thiệp cho trẻ ASD về khái niệm thời gian. Tiếc là ý tưởng chưa kịp thực hiện vì trẻ rời phòng khám sớm. Đây cũng là một thực tế ở các phòng khám, cha mẹ trẻ thường hướng tới các trung tâm can thiệp mang tính giáo dục, khi trẻ ASD có mức trí tuệ cao. 

Thuyết tâm trí thực chất là một mô tả một chức năng tâm lý, bao gồm thuyết tâm trí về nhận thức và thuyết tâm trí về cảm xúc.

Một vấn đề nữa, hy vọng bạn đọc lưu ý khái niệm “đọc trong mắt”, ở đây nhấn mạnh là ‘vùng quanh mắt’ với chi phối của dây VII. Trong sách dạy kĩ năng giao tiếp của Đại học Y Hà Nội vẫn liệt kê “ánh mắt’, làm cho sinh viên (có lẽ đọc ngôn tình quá nhiều???) vẫn khăng khăng với tôi về “mắt”. Đối với sinh viên y khoa, dĩ nhiên sự uyển chuyển hay ẩn ý có thể không giống các bạn mình bên tâm lý học, vì mắt thôi (giới hạn ngoài bởi mi mắt và gồm toàn bộ các cấu trúc trong hố mắt), đã là một chuyên ngành.

Tôi sưu tập được bài viết, nhưng không rõ thời gian xuất bản, có lẽ vào khoảng đầu những năm 2000. 

Tự kỷ và ‘lý thuyết về tâm trí’

Simon Baron-Cohen

Hầu hết mọi người đều mang trong đầu mình cái mà các nhà tâm lý học gọi là ‘lý thuyết về tâm trí’- ToM. Một lý thuyết như vậy cho phép chúng ta suy ra các trạng thái tinh thần (niềm tin, mục đích, ý định, trí tưởng tượng, cảm xúc, v.v.) ở người khác. Chúng ta dường như làm điều này rất nhiều, như một cách suy nghĩ tự nhiên về lý do tại sao mọi người làm những gì họ làm.

Ví dụ, bạn có thể thắc mắc tại sao một số người bạn đã không gọi điện cho bạn trong một thời gian. Bạn có thể suy đoán rằng, có thể bạn đã xúc phạm họ theo một cách nào đó, hoặc ít nhất là họ nghĩ rằng bạn đã làm như vậy. Hoặc có thể họ đang cố gắng tránh mặt bạn vì họ cảm thấy rằng tình bạn đang ngột ngạt. Hoặc có thể họ chỉ muốn có thêm không gian. Vì vậy, bạn gọi cho họ và họ nói rằng mọi thứ đều ổn. Sau đó, bạn bắt đầu tự hỏi liệu khi họ nói vậy, họ có thực sự có ý đó không? Có lẽ họ đang muốn giữ thái độ lịch sự nhưng thực sự mong muốn tình bạn kết thúc?

Trong đoạn trên, bạn có thể thấy rằng có rất nhiều từ đề cập đến những gì diễn ra trong tâm trí của một người và của người khác. Các nhà tâm lý học gọi điều này, bằng cách sử dụng ‘lý thuyết’ của tâm trí (Astington, 1994), đơn giản bởi vì thường có rất ít bằng chứng về những gì người khác thực sự đang nghĩ hoặc cảm thấy, vì vậy mọi người suy đoán (giả thuyết) theo cách này. Lý thuyết về những gì có thể có trong tâm trí của ai đó là một cách quan trọng để giúp chúng ta hiểu rõ về hành vi và dự đoán những gì người đó có thể làm tiếp theo. Tóm lại, ToM là khả năng có thể, phản ánh nội dung trong tâm trí, của những người khác nhau.

Chứng tự kỷ

Trong bài này, tôi sẽ mô tả một số bằng chứng cho lập luận rằng, tình trạng tự kỷ liên quan đến những khó khăn trong việc tìm ra những gì đang diễn ra trong tâm trí của người khác. Nhưng trước tiên, phải tìm hiểu về chứng tự kỷ (Baron- Cohen và Bolton 1993). Tự kỷ được coi là rối loạn nặng nhất trong số các rối loạn tâm thần thời thơ ấu. Nó được chẩn đoán dựa trên sự phát triển bất thường của hành vi xã hội, giao tiếp và trí tưởng tượng, thường là có hiện diện của hành vi ám ảnh, lặp đi lặp lại hoặc theo nghi thức rõ rệt. Những đứa trẻ như vậy cảm thấy khó khăn khi trở thành một phần của một nhóm xã hội và bao trùm cả gia đình của mình bằng sự nhấn mạnh vào những mối bận tâm và những thói quen kỳ lạ của bản thân.

Một số trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong học tập ở mức độ trung bình hoặc nặng, cho thấy rằng trẻ mắc chứng tự kỷ có các vấn đề lan tỏa hơn. Tỷ lệ trẻ em mắc chứng tự kỷ gặp khó khăn trong học tập được báo cáo là 65-70%, với 25-35% tương ứng có trí thông minh (IQ) ở mức trung bình hoặc trung bình khá.

Cũng giống như chứng tự kỷ có thể cùng xảy ra với những khó khăn trong học tập, vì vậy nó có thể đồng xảy ra với việc không có lời nói. Tuy nhiên, những đứa trẻ mắc chứng tự kỷ có khả năng nói, chắc chắn sẽ bị trì hoãn trong việc bắt đầu phản ứng, và khi chúng giao tiếp, chúng thực hiện điều này theo cách rất phiến diện, thay vì sử dụng đối thoại qua lại. Trẻ có xu hướng nói chuyện tại chỗ bạn, hơn là với bạn hoặc hướng tới bạn. Trẻ cũng có thể thường xuyên hiểu sai ý của người nói và cung cấp thông tin không tuân theo chuẩn giao tiếp để người nghe hiểu trẻ muốn nói gì. Những bất thường trong giao tiếp này được cho là phản ánh việc trẻ không cân nhắc đến những gì người nghe có thể đang nghĩ hoặc quan tâm. Thay vào đó, ngôn ngữ hầu như chỉ được sử dụng theo nghĩa đen và thực tế, để trả lời câu hỏi, thu thập thông tin hoặc đề nghị thông tin.

Cuối cùng, trẻ tự kỷ có nhận thức khác thường, thường xuyên chú ý đến những chi tiết nhỏ mà người khác bỏ sót (chẳng hạn như số thứ tự ở mặt sau của cột đèn đường) hoặc nhớ lại thông tin với độ chính xác đáng kể (chẳng hạn như ngày giờ chính xác mà trẻ đến một rạp hát lần cuối cùng, từ ba năm trước đó) hoặc chú ý đến kết cấu mà người khác có thể không nhận thấy (chẳng hạn như bề mặt một bức tường) hoặc bị tức giận bởi âm thanh trong môi trường xung quanh (chẳng hạn như âm thanh chói tai của điện thoại).

Tự kỷ và ToM

Bài này bắt đầu bằng cách mô tả cái cách, mà trong trường hợp bình thường, chúng ta diễn giải hành động và lời nói của nhau theo những gì mọi người có trong tâm trí mình. Chúng tôi gọi như vậy bằng cách sử dụng ToM và đó là cách chính mà chúng ta hiểu về người khác. Tuy nhiên, dường như không phải ai cũng có thể làm điều này một cách khá dễ dàng hoặc theo cùng một cách. Sự bất thường trong việc hiểu tâm trí của người khác – trong việc phát triển một ToM bình thường- không phải là đặc điểm tâm lý duy nhất của chứng tự kỷ, mà nó dường như là một bất thường cốt lõi và có thể là phổ biến ở những người như vậy (Bason-Cohen và cs. 1993b). Một số người mắc chứng tự kỷ thiếu gần như tất cả các dấu hiệu của ToM. Người ta có thể nghĩ về những trường hợp cực đoan như một dạng ‘mù tâm trí’ (Baron-Cohen 1995). Thông thường hơn, những người mắc chứng tự kỷ có một số kiến ​​thức cơ bản của lý thuyết về tâm trí, nhưng gặp một số khó khăn trong việc sử dụng nó ở mức độ mà người ta mong đợi, do bù trừ trí thông minh của họ trong các lĩnh vực khác. Như bạn thấy, trí thông minh xã hội của họ đang tụt hậu so với trí thông minh phi xã hội của họ. Trong trường hợp của họ, người ta có thể nói rằng họ có mức độ thiểu năng trí tuệ, từ khó khăn nghiêm trọng đến mức trung bình, hoặc thậm chí rất nhẹ.

Bài này mô tả một số biểu hiện của hiện tượng trên và nhấn mạnh cách thức các thử nghiệm phù hợp với sự phát triển là cần thiết, để phát hiện ra nó. Lưu ý rằng các thuật ngữ “lý thuyết về tư duy” và “đọc tư duy”, ở một mức độ nào đó có thể được sử dụng đồng nghĩa. Bài này cũng nhằm mục đích minh họa cho việc xây dựng lý thuyết trong tâm lý học, vì ý tưởng rằng chứng tự kỷ có thể tạo công thức cho các vấn đề về lý thuyết tâm trí, cũng như là một cách hữu ích để hiểu một số triệu chứng chính của bệnh: các vấn đề xã hội và giao tiếp trong tư kỉ và, ở một mức độ nào đó, trí tưởng tượng hạn chế của người mắc chứng tự kỉ. (Tuy nhiên, lưu ý rằng lý thuyết này có rất ít hoặc không liên quan đến các triệu chứng khác của bệnh tự kỷ, chẳng hạn như nhận thức khác thường của bệnh nhân.) Lý thuyết sẽ giúp các nhà tâm lý học ứng dụng làm việc với những đứa trẻ với ASD hiểu thêm về tình trạng bệnh và hy vọng, về lâu dài, tìm ra những cách tốt hơn để can thiệp.

Sự khác biệt giữa tinh thần và thể chất

Có lẽ nơi tốt nhất để bắt đầu minh họa ToM bình thường, và cách mà nó phát triển bất thường trong chứng tự kỷ, là với sự phân biệt tinh thần và thể chất, vì nhiều người cho rằng sự phân biệt này là nền tảng cơ bản của ToM. Bài test cho ToM là một cách tốt để diễn đạt nó là gì. Bài test bao gồm việc cho một đứa trẻ nghe những câu chuyện trong đó một nhân vật đang trải nghiệm tinh thần (ví dụ: nghĩ về một con chó) trong khi nhân vật thứ hai đang trải nghiệm thể chất (ví dụ: ôm một con chó). Sau đó, người thử test yêu cầu trẻ đánh giá xem nhân vật nào trong số hai nhân vật có thể thực hiện các hành động khác nhau (ví dụ: nhân vật nào có thể vuốt ve con chó?). Những đứa trẻ 3-4 tuổi bình thường có thể dễ dàng đưa ra những phán đoán này (ví dụ chúng có thể phán đoán rằng chỉ có nhân vật đang ôm con chó mới có thể vuốt ve nó), qua đó chứng tỏ chúng có sự phát triển rõ ràng về sự phân biệt giữa những thứ tinh thần và thể chất. Trẻ em mắc chứng tự kỷ nặng gặp khó khăn trong việc đưa ra những phán đoán như vậy mặc dù có tuổi tâm thần ít nhất là 4 tuổi (Baron-Cohen 1989a).

Hiểu các chức năng của não

Trẻ 3-4 tuổi đang phát triển bình thường cũng đã biết rằng bộ não có một tập hợp các chức năng tinh thần, chẳng hạn như mơ, muốn, suy nghĩ, giữ bí mật, v.v. Một số cũng biết nó có các chức năng thể chất (chẳng hạn như khiến bạn di chuyển, hoặc giúp bạn sống sót, v.v.). Ngược lại, trẻ tự kỷ (nhưng có tuổi trí tuệ trên 4 tuổi) dường như biết về các chức năng thể chất, nhưng hầu hết không đề cập đến bất kỳ chức năng tinh thần nào của não (Baron-Cohen 1989a).

Sự khác biệt giữa biểu hiện và sự thực tế

Trẻ em từ khoảng 4 tuổi thường có khả năng phân biệt giữa biểu hiện và sự thực, nghĩa là, nhận ra các đồ vật có thể có nhận dạng sai lệch. Ví dụ, trẻ có thể phát hiện, khi được nhìn một ngọn nến có hình quả táo, rằng nó trông giống một quả táo nhưng thực sự là một ngọn nến. Trẻ tự kỷ, được quan sát với cùng một loại bài kiểm tra, có thể không nói về các đồ vật theo cách giống nhau, có thể nói rằng đồ vật thực sự là một quả táo hoặc thực sự là một ngọn nến, nhưng không nắm bắt được danh tính kép của đối tượng trong các mô tả tự phát của chúng (Baron-Cehen, 1969a). Vì điều này được cho là đòi hỏi bạn phải có khả năng theo dõi đồng thời cách một vật thể xuất hiện (trong tâm trí bạn) so với thực tế của nó, đây là một manh mối bổ sung cho thấy trong chứng tự kỷ có một khó khăn trong việc phát triển lý thuyết về tâm trí. Tuy nhiên, các giải thích khác về khó khăn này chắc chắn có thể có, vì nhiệm vụ này dựa vào kỹ năng ngôn ngữ khá phức tạp.

Kiểm tra niềm tin sai lầm bậc một

Các bài test niềm tin sai lầm bậc một gây nhiễu hiểu biết của trẻ về thực tế là những người khác nhau có thể có những suy nghĩ khác nhau về cùng một tình huống. Chúng được gọi là các bài test bậc nhất vì chỉ liên quan đến việc suy ra trạng thái tinh thần của một người. Thông thường, trẻ 4 tuổi đang phát triển có thể theo dõi xem những người khác nhau có thể nghĩ những điều khác nhau về thế giới như thế nào (Wimmer và Perner 1983). Ví dụ, khi giải thích những câu chuyện nổi tiếng như Cô bé quàng khăn đỏ hay Bạch Tuyết, ngay cả những đứa trẻ 4 tuổi sẽ nói những câu như: ‘Cô bé quàng khăn đỏ nghĩ rằng đó là bà của mình trên giường, nhưng thực sự đó là con sói độc ác’ hoặc là ‘Bạch Tuyết nghĩ rằng người phụ nữ lớn tuổi đang cho cô ấy một quả táo ngon ngọt. Cô ấy không biết rằng đó thực sự là người mẹ kế độc ác của mình, bà ấy ăn mặc giả và quả táo đã bị nhiễm độc!’. Một số lượng lớn các nghiên cứu đã nhiều lần chứng minh rằng trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi quan điểm của mình để đánh giá những gì người khác có thể nghĩ, thay vì chỉ đơn giản là báo cáo những gì bản thân chúng biết (Baron-Cohen và cộng sự, 1985).

Nhìn thấy dẫn đến biết’

Tuy nhiên, một nền tảng khác của ToM trên một đứa trẻ bình thường là sự hiểu biết về kiến ​​thức đến từ đâu, để đứa trẻ có thể tìm ra ai biết điều gì và quan trọng hơn, ai hành động vì điều gì. Đây là một bước phát triển then chốt, đơn giản vì nó làm nền tảng cho giao tiếp phù hợp (nói với mọi người những gì họ không biết – thông báo cho người khác – thay vì nói cho họ biết những gì họ đã biết). Nó cũng củng cố sự hiểu biết về sự lừa dối, vì trước khi xem xét việc thay đổi niềm tin của ai đó về điều gì là sự thật, trước tiên bạn phải tìm ra những gì họ biết hoặc không biết. Sự lừa dối sẽ đổ bể khi mà bạn không thể theo dõi những gì người kia có thể biết hoặc không biết. 

Trẻ 3 tuổi đang phát triển bình thường có thể hiểu nguyên tắc ‘nhìn thấy dẫn đến biết’, khi được đưa ra một câu chuyện về hai nhân vật, một trong hai người nhìn vào hộp và người kia chỉ chạm vào hộp, chúng có thể hiểu được rằng, chỉ người đã nhìn mới biết có gì trong hộp. Ngược lại, trẻ tự kỷ hầu như không có cơ hội trong bài test này và có nhiều khả năng chọn bất kì khi được hỏi “Ai biết cái gì trong hộp?” (Baron-Cohen và Goodhart 1994). 

Nhận biết các từ mô tả trạng thái tinh thần

Hóa ra là đến 4 tuổi, những đứa trẻ đang phát triển bình thường cũng có thể chọn ra các từ trong danh sách từ đề cập đến những gì diễn ra trong tâm trí hoặc những gì trí óc có thể làm. Những từ này bao gồm ‘nghĩ’, ‘biết’, ‘mơ’, ‘giả vờ’, ‘hy vọng’, ‘ước gì’ và ‘tưởng tượng’. Chúng dễ dàng phân biệt với các loại động từ (không phải tinh thần) khác như ‘nhảy’, ‘ăn’ hoặc ‘di chuyển’, của các loại danh từ (không phải tinh thần) khác, ‘cửa’, ‘trường học’ hoặc ‘máy tính’ . Trẻ tự kỷ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đưa ra nhận định này (Baron-Cohen ef al. 1994). Đây thực sự là một bài test về vốn từ vựng về tinh thần của trẻ, nhưng nó cũng có thể là một chỉ báo cho thấy sự phát triển khái niệm trong lĩnh vực này cũng kém hơn so với mong đợi đối với độ tuổi tinh thần chung của trẻ.

Các từ mô tả trạng thái tinh thần trong lời nói tự phát

Phát hiện ltrước đây báo cáo rằng trẻ tự kỷ tạo ra ít từ về trạng thái tinh thần hơn trong các mô tả tự phát về các câu chuyện hình ảnh liên quan đến hành động và lừa dối, so với các trẻ bình thường (Beroa-Cohen và cs. 1966; Tager-Flucherg 1992). Tất nhiên, chỉ vì họ không sử dụng những từ này quá dễ dàng, điều này có thể không nhất thiết phản ánh sự thiếu năng lực. Nó có thể chỉ đơn giản là sự thiếu quan tâm. Nhưng khi kết hợp với các bằng chứng thực nghiệm khác được tóm tắt trong bài này, có khả năng là điều này phản ánh sự chậm trễ hoặc khó khăn trong việc hiểu các khái niệm trạng thái tinh thần, ít nhất là giảm sự chú ý đến các hiện tượng đó.

Chơi giả vờ tự phát

Các nghiên cứu về trẻ em từ giữa những năm 1970 đã báo cáo rằng tần suất chơi giả vờ trong trò chơi tự phát của trẻ tự kỷ thấp hơn (Wing và cs. 1977; Baron-Cohen 1987). Điều này có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ: nó có thể phản ánh sự thất bại trong việc phản ánh trí tưởng tượng của chính một người – một khó khăn trong việc đọc suy nghĩ. Hoặc nó có thể phản ánh một sai lầm khi chuyển sự chú ý linh hoạt từ “chế độ thực tế” sang “chế độ giả vờ”, do một số khía cạnh của cái được gọi là chức năng điều hành (Jarsold và cs. 1994). Hoặc nó có thể có nghĩa là cả hai.

Hiểu nguyên nhân của cảm xúc

Cảm xúc có thể do các sự kiện vật lý gây ra (ví dụ như ngã khiến bạn khóc, được tặng một món quà khiến bạn cảm thấy hạnh phúc). Nhưng cảm xúc cũng có thể được gây ra bởi các trạng thái tinh thần như ham muốn và niềm tin. Ví dụ, bạn có thể hạnh phúc vì đạt được điều mình muốn hoặc vì bạn nghĩ rằng mình đang đạt được điều mình muốn. Trẻ 4 – 6 tuổi đang phát triển bình thường hiểu cả hai loại nguyên nhân cảm xúc, Ngược lại, các nghiên cứu cho thấy trẻ tự kỷ ở độ tuổi tâm thần này gặp khó khăn với việc tiến tới các trạng thái tinh thần phức tạp như nguyên nhân của cảm xúc (Baron- Cohen 1991; Baron-Cohen và cs, 1993a).

Suy ra từ hướng nhìn

Tại sao chúng ta dành quá nhiều thời gian để nhìn vào mắt mọi người? Vào những năm 1980, người ta không biết, thông tin xung quanh mắt của một người nào đó có thể truyền tải đến một người khác. Giờ đây, chúng ta biết rằng ngay cả trẻ nhỏ bình thường (4 tuổi) cũng có thể suy nghĩ về hướng nhìn khi ai đó đang suy nghĩ về điều gì đó. Hướng nhìn cũng cho phép trẻ nhỏ bình thường ở cùng độ tuổi tìm ra đối tượng mà một người quan tâm. Ngược lại, trẻ em mắc chứng tự kỷ tương đối mù mờ với những thông tin như vậy từ hướng nhìn, mặc dù chúng có thể trả lời câu hỏi rõ ràng, ‘Charlie đang nhìn gì? Việc giải thích theo hướng tinh thần đối với đôi mắt của người khác dường như không đến với họ một cách tự nhiên (Baron-Cohen và Cross 1992; Baron-Cohen và cộng sự 1995).

Giám sát ý định riêng của một người

Chúng tôi đã đề cập đến một số bài kiểm tra về việc hiểu suy nghĩ của người khác, nhưng một loại trạng thái tinh thần quan trọng khác là ý định. Muốn tìm hiểu lý do tại sao mọi người hành xử như họ đã làm, thì phải có khả năng theo dõi ý định của họ, vì chỉ theo dõi các hành động thì chỉ cung cấp cho bạn mô tả về những gì mọi người làm chứ không phải tại sao họ làm điều đó. Trong một thử nghiệm mới về điều này, những đứa trẻ 4 tuổi bình thường được yêu cầu bắn súng đồ chơi vào một trong sáu mục tiêu, nêu rõ mục tiêu dự định của chúng. Sau đó, những đứa trẻ không hề hay biết, kết quả đã bị người thực nghiệm thao túng, cho phép trẻ đôi khi bắn trúng mục tiêu đã chọn của mình, và đôi khi không trúng. Trẻ 4 tuổi đang phát triển bình thường có thể trả lời câu hỏi, “Bạn định bắn cái nào”, ngay cả khi chúng không đạt được ý định của mình, nhưng trẻ tự kỷ thường nhắc đến cái mà chúng thực sự bắn (Phillips và cộng sự 1998).

Lừa dối

Sự lừa dối có liên quan đến việc hiểu tâm trí của những người khác đơn giản là vì nó liên quan đến việc cố gắng làm cho người khác tin rằng điều gì đó là đúng trong khi thực tế là sai. Nói cách khác, tất cả chỉ là cố gắng thay đổi suy nghĩ của người khác. Khi được 4 tuổi, đứa trẻ đang phát triển bình thường thể hiện sự hứng thú với việc lừa dối và bắt đầu trở nên thành thạo hơn với nó. Bỏ khía cạnh đạo đức sang một bên, những dấu hiệu lừa dối như vậy có thể được coi là thước đo cho thấy đứa trẻ đang hiểu những tâm trí khác. Tất nhiên, những nỗ lực lừa dối ban đầu của đứa trẻ có thể vụng về và không hiệu quả, chẳng hạn như đứa trẻ tuyên bố rằng nó không lấy chiếc bánh quy sô cô la, trong khi bằng chứng về câu chuyện hiện trên khuôn mặt của nó, hoặc đứa trẻ trong trò chơi trốn tìm, gọi từ nơi ẩn nấp sau rèm cửa: ‘đến tìm tôi!’. Trong những trường hợp này, đứa trẻ được cho là đang cố lừa dối, nhưng không biết mình đã lộ manh mối mà sẽ dẫn người khác đến sự thật.

Trẻ tự kỷ đã được chứng minh là gặp khó khăn trong việc tạo ra sự lừa dối và hiểu được, khi nào người khác đang lừa dối mình. Một ví dụ về một bài kiểm tra là ‘trò chơi giấu xu’ (Baron-Cohben 1992), trong đó mục đích của trò chơi là không tiết lộ bạn đã giấu một xu trong tay nào. Trẻ nhỏ mắc chứng tự kỷ, mặc dù có tuổi trí tuệ cao hơn trẻ 4 tuổi, nhưng thường mắc lỗi trong trò chơi này, điều này cho thấy chúng không hiểu cách đánh lừa một cách rất rõ ràng. Ví dụ về các lỗi của trẻ là giấu đồng xu trong một tay, nhưng lại để ngỏ ở mặt khác; hoặc giữa các thử nghiệm, chuyển đồng xu từ nắm đấm của tay này sang nắm đấm tay khác; hoặc đưa đồng xu ra khỏi tầm mắt và sau đó nói với người khác rằng “nó ở đây!”, v.v.

Hiểu ẩn dụ, châm biếm và mỉa mai

Happé (1994) đã kiểm tra xem trẻ tự kỷ có hiểu lời nói ẩn ý thông qua việc hiểu câu chuyện hay không. Lời nói ẩn ý cũng đòi hỏi sự hiểu biết về ý định của người nói, để vượt ra khỏi cấp độ nghĩa đen của việc chỉ đơn giản ánh xạ các từ tới các tham chiếu của chúng. Ví dụ về ngôn ngữ ẩn ý mang tính châm biếm mỉa mai (‘Hôm nay phòng của con trông sạch sẽ nhỉ!!!’ ‘, do một phụ huynh bực tức thốt lên với một đứa trẻ) và ẩn dụ (‘Cháu có một cái lưỡi sắc bén!’). Kết quả cho thấy rằng bài kiểm tra đọc tư duy nâng cao hơn này (được đưa ra ở mức độ của một đứa trẻ 8 tuổi bình thường) cho thấy những khó khăn về khả năng đọc tinh tế hơn ở những người chức năng cao trong phổ tự kỷ. Một phát hiện tương tự khi sử dụng một bài test đơn giản hơn, trong một nghiên cứu về trẻ mẫu giáo bình thường, dựa trên ý tưởng để xem liệu trẻ có thể hiểu được ý định nói đùa của ai đó hay không. Trẻ em dưới 3 tuổi nghe thấy những câu nói như ‘Đây là một chiếc giày’, do người thử nghiệm nói, trong khi chỉ vào một cái cốc, và được hỏi tại sao người thử nghiệm lại nói như vậy. Những đứa trẻ bình thường có lời giải thích là ‘nói đùa’ và ‘giả vờ’, trong khi trẻ tự kỷ có xu hướng ám chỉ người nói đã nói sai (‘Đó không phải là một chiếc giày, đó là một chiếc cốc?) (Baron-Cohen 1997).

Ngữ dụng học

Hiểu cách nói ẩn ý và sự hài hước là một tập hợp con của ngữ dụng, hoặc cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh xã hội (Baron-Cohen 1988).

Ngữ dụng học bao hàm ít nhất những điều sau:

* trình bày cho người nghe cụ thể

* điều chỉnh nội dung bài trình bày của bạn với những gì người nghe của bạn đã biết hoặc cần biết

* tôn trọng các nguyên tắc hội thoại như trung thực, phù hợp, ngắn gọn và lịch sự

* xoay chuyển một cách thích hợp để có không gian cho cả những người tham gia đối thoại

* nhạy cảm với sự đóng góp của người khác vào cuộc trò chuyện

* nhận ra điều gì là sai hoặc đúng để nói trong một bối cảnh cụ thể

* tiếp tục chủ đề

* giúp người nghe của bạn theo dõi một cách thích hợp khi có sự thay đổi chủ đề.

Hầu hết mọi khía cạnh của ngữ dụng đều liên quan đến sự nhạy cảm đối với trạng thái tinh thần của người nói và người nghe, và do đó nó là đọc suy nghĩ, mặc dù điều quan trọng cần lưu ý là ngữ dụng cũng liên quan đến việc sử dụng ngữ cảnh. Điều này có nghĩa là một khó khăn trong ngữ dụng có thể xảy ra vì ít nhất hai lý do khác nhau: một số mức độ ‘mù trí tuệ’, hoặc một mức độ nào đó của cái mà Frith (1989) gọi là ‘tính liên kết trung tâm yếu’ (sử dụng ngữ cảnh). Hai nghiên cứu thực nghiệm về ngữ dụng học ở trẻ tự kỷ bao gồm một bài kiểm tra về việc liệu các nguyên tắc liên quan đến hội thoại có thể được nhận ra hay không và một bài kiểm tra về khả năng nhận biết khi ‘ai đó nói điều sai’ (faux pes). Cả hai nghiên cứu đều cho rằng trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong lĩnh vực này (Surian và cộng sự 1996; Baron-Cohen và cộng sự.).

Trí tưởng tượng

Chúng tôi đã thảo luận về mức độ liên quan của trò chơi giả vờ trước đó, nhưng đây chỉ là một cách khả thi để thể hiện trí tưởng tượng. Nói rộng hơn, trí tưởng tượng có liên quan đến ToM vì nó liên quan đến việc xây dựng một thế giới không thực tồn tại hoàn toàn trong tâm trí của bạn và có thể phản ánh về thế giới ảo này. Trong một nghiên cứu, Scott và Baron-Coben (1996) đã điều tra khả năng của trẻ tự kỷ trong việc vẽ những bức tranh về các vật thể không có thật hoặc không thể (chẳng hạn như người hai đầu) và phát hiện ra rằng trẻ tự kỷ càng miễn cưỡng hơn vì ít có khả năng diễn đạt qua vẽ hình hơn trẻ bình thường.

Những kết quả này có thể là do cái gọi là ‘chức năng điều hành’ (vì vậy cần bỏ các các cách tiếp cận thông thường trong trò vẽ tranh và thay thế các phương pháp này bằng các phương pháp mới). Tuy nhiên, có bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự suy giảm trí tưởng tượng dai dẳng ở cả trẻ em mắc chứng tự kỷ và Hội chứng Asperger trong một loạt các nhiệm vụ không bị giới hạn trong vẽ tranh (chẳng hạn như kể chuyện và các biện pháp sáng tạo tiêu chuẩn). (Hội chứng Asperger là một dạng tự kỷ nhẹ hơn, không có sự chậm phát triển về nhận thức, nhưng có những bất thường về tương tác xã hội và các hoạt động lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn.) Bằng chứng này rõ ràng phù hợp với các mô tả lâm sàng về trí tưởng tượng bị suy giảm ở những người mắc chứng tự kỷ, như được chỉ ra trong hầu hết các hệ thống phân loại chẩn đoán.

Tương quan với các kỹ năng xã hội trong cuộc sống thực

Ở đây người ta có thể nêu lên mối nghi ngại rằng, ToM chỉ đơn giản là đo lường các khía cạnh của hiểu biết xã hội trong điều kiện phòng thí nghiệm và như vậy, không liên quan gì đến tình trạng suy giảm chức năng xã hội trong thế giới thực. Vì lý do này, Frith và các đồng nghiệp của cô đã xem xét mối tương quan của kĩ năng ToM ở trẻ tự kỷ trong mối quan hệ với hành vi trong thế giới thực. Sử dụng bảng câu hỏi với giáo viên, hỏi về các kỹ năng thực tế trong cuộc sống như giữ bí mật, an ủi người khác và hiểu ý định của người khác, họ báo cáo rằng các bài kiểm tra trong phòng thí nghiệm thực sự có tương quan đáng kể với các hành vi liên quan này, do đó cung cấp do đó cung cấp một giá trị hợp lệ của các bài test (Frith , Happé và Siddons 1994).

Kiểm tra niềm tin sai lầm bậc hai

Tính phổ biến của những khó khăn về ToM trong bệnh tự kỷ đã được đặt câu hỏi, đơn giản vì một tỷ lệ trẻ em mắc chứng tự kỷ có thể vượt qua các bài kiểm tra bậc một. Các bài kiểm tra bậc một, bao gồm hầu hết các bài kiểm tra được đánh giá ở trên, chỉ liên quan đến việc suy ra trạng thái tinh thần của một người. Happé (1996) chỉ ra rằng điều này vẫn có thể có nghĩa là những bất thường này là phổ biến, vì không có trường hợp nào được báo cáo về trẻ tự kỷ vượt qua bậc một của các bài test tâm trí ở độ tuổi tâm thần phù hợp. Do đó, một cá nhân hoạt động tốt với tình trạng tự lực (ví dụ như với Hội chứng Asperger) có trí thông minh bình thường, sẽ có thể vượt qua các bài kiểm tra như vậy khi 3-4 tuổi. Tuy nhiên, thông thường, trẻ đó có độ tuổi sinh học lớn hơn khi chúng vượt qua các bài kiểm tra như vậy. Tương tự, Happé (1996) nhận thấy rằng trẻ tự kỷ cần trung bình đến 9 tuổi để vượt qua các bài test như vậy, và tuổi trí tuệ thấp nhất của một cá nhân tự kỷ vượt qua các bài test đó là 5 tuổi rưỡi.

Như người ta có thể mong đợi, do sự chậm trễ trong việc tiếp thu bậc nhất trong ToM, những cá nhân này thường thất bại trong các bài test niềm tin sai lầm bậc hai (Baron-Cohen 1989b). Các bài test bậc hai liên quan đến việc xem xét các trạng thái tinh thần được ẩn (ví dụ: suy nghĩ của một người về suy nghĩ của người khác). Trong khi các bài kiểm tra bậc một tương ứng với mức độ tuổi tâm thần bình thường là 4 tuổi, thì các bài kiểm tra bậc hai tương ứng với mức độ tuổi tâm thần 6 tuổi. Đây có thể là một cách khác để tiết lộ nếu có một sự chậm phát triển cụ thể trong lý thuyết về tâm trí tại một thời điểm phát triển sau này. Một số cá nhân mắc chứng tự kỷ hoặc Hội chứng Asperger có chức năng cao (về chỉ số IQ và trình độ ngôn ngữ), và thường là người lớn, có thể vượt qua các bài kiểm tra niềm tin sai lầm bậc hai. Tuy nhiên, những người có thể vượt qua các bài test bậc hai như vậy có thể gặp khó khăn trong ToM bậc cao hơn, chẳng hạn như suy ra các trạng thái tinh thần phức tạp như không quy luật và lừa kép ở các nhân vật trong truyện – bài test mức độ tuổi tâm thần 6 tuổi (Happé 1994) – hoặc trong giải mã các trạng thái tinh thần phức tạp từ một biểu hiện trong vùng mắt của khuôn mặt (Baron-Cohen et at. 1997).

Ứng dụng của lý thuyết vào can thiệp

Việc xây dựng lý thuyết về một tình trạng như chứng tự kỷ là một chuyện, vấn đề không chỉ là để mô tả thế giới: vấn đề là thay đổi nó. Những lý thuyết như vậy có tính ứng dụng thực tế nào cho thế giới của những đứa trẻ này, để chúng ta có thể cải thiện tình hình của chúng không? Ở đây, tôi sẽ đề cập ngắn gọn đến một ứng dụng thực tế của ToM với chứng tự kỷ.

Đã có những nỗ lực cố gắng dạy trẻ tự kỷ cách đọc suy nghĩ. Đây là ứng dụng thực tế hợp lý nhất. Nếu các bài kiểm tra được mô tả ở trên nêu bật những khó khăn cụ thể trong những gì những đứa trẻ này hiểu được, thì phương pháp giảng dạy có cấu trúc có thể tạo ra sự khác biệt. Một ví dụ cụ thể về điều này liên quan đến việc giáo viên (một nhà tâm lý học) giải thích cho trẻ tự kỷ rằng, suy nghĩ giống như những bức ảnh trong đầu mọi người (Swettenham và cs. 1996). Điều này mang lại cho trẻ tự kỷ một sự tương tự cụ thể để giúp chúng nắm bắt được suy nghĩ là gì. Vì trẻ tự kỷ không gặp khó khăn gì trong việc hiểu máy ảnh và ảnh là gì, bạn có thể đi một chặng đường dài nếu sử dụng phép loại suy này.

Cụ thể, bạn nói với đứa trẻ rằng tâm trí giống như một chiếc máy ảnh, và ống kính máy ảnh giống như con mắt. Sau đó, giáo viên giải thích rằng cũng giống như khi bạn hướng máy ảnh vào một thứ gì đó và nhấp vào nút, thao tác này sẽ tạo ra hình ảnh của thứ đó bên trong máy ảnh, vì vậy khi một người đối mặt với một thứ gì đó và nhìn vào nó, điều này sẽ tạo ra một bức ảnh của điều đó bên trong đầu của người đó.

Sau đó, giáo viên minh họa điều này bằng cách sử dụng máy ảnh polaroid, vì sau đó trẻ có thể thực hành sử dụng thiết bị này để xem hình ảnh tức thì được tạo ra. Bước tiếp theo của việc giảng dạy là nói với trẻ rằng một số bức tranh đã bị lỗi thời, bởi vì mọi thứ trên thế giới thay đổi mà bức ảnh không phản ánh sự thay đổi đó. (Ví dụ: bạn có thể chuyển nhà, khi đó hình ảnh ngôi nhà đã có thì trở thành hình cũ của bạn). Theo cách tương tự, mọi người có thể có những hình ảnh bị lỗi thời trong tâm trí của họ (niềm tin không còn đúng nữa) vì chúng không ghi lại được sự thay đổi. Dạy bước này cho phép trẻ tự kỷ tìm ra lý do tại sao ai đó có thể hành động theo cách mà họ đã làm, trên cơ sở hình dung sự lỗi thời trong tâm trí chúng. Bước cuối cùng liên quan đến việc dạy trẻ rằng nếu mọi người đang tìm kiếm thứ gì đó, họ sẽ đi tìm nó ở nơi được hiển thị trong hình trong đầu ở lần trước.

Với phương pháp giảng dạy có phần phức tạp này, các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng trẻ tự kỷ có thể học cách tìm ra nơi ai đó sẽ nhìn nếu có thứ gì đó được di chuyển khi người đó không có mặt – chúng có thể tìm ra rằng người đó sẽ đi đến nơi mà họ nghĩ đối tượng có thể ở, hơn là vị trí thực tế của nó. Đó là, trẻ tự kỷ có thể được dạy để vượt qua các bài kiểm tra niềm tin sai lầm bậc một. Đây chỉ là mục đích giúp đỡ trẻ em mắc chứng tự kỷ có được ý tưởng về cách đọc tư duy.

Kết luận

Khó khăn trong việc đọc suy nghĩ trong các dạng của phổ tự kỷ xuất hiện sớm (ít nhất là từ cuối năm đầu tiên của cuộc đời, nếu bạn bao gồm cả bất thường về chú ý chung, như không theo dõi những gì người khác quan tâm). Chúng cũng có vẻ phổ biến (nếu bạn kiểm tra những điều này vào đúng thời điểm phát triển hoặc, trong trường hợp những trẻ lớn – có chức năng cao, bằng cách sử dụng test có độ nhạy cao, phù hợp với lứa tuổi).

Một số manh mối liên quan đến cơ sở não bộ của những khó khăn về ToM trong bệnh tự kỷ đang được thu thập trên cả phương diện hình ảnh thần kinh chức năng (Baron-Cohen và Ring 1994; Happé và cs. 1996), và các nghiên cứu về tổn thương não mắc phải (Stone và cs 1998a ; 1998b). Người ta hy vọng rằng nghiên cứu trong tương lai trong lĩnh vực này sẽ cải tiến cả về các kỹ thuật nghiên cứu kỹ năng này, và tiến xa hơn trong việc tìm hiểu các cơ chế cơ bản cần thiết cho việc đọc tư duy. Cuối cùng, điều quan trọng nhất, phần lớn các nghiên cứu cơ bản về vấn đề này có thể có ứng dụng lâm sàng trong các lĩnh vực can thiệp / giảng dạy hoặc chẩn đoán (Baron-Cohen và cộng sự 1996). Đây là một lĩnh vực cần thăm dò có hệ thống.

Giám sát

Tiến sĩ Baron-Cohen đã được hỗ trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Y khoa trong suốt thời gian thực hiện công việc này.

The Eyes Test

Trong mấy năm vừa qua, ở Việt Nam có nội dung hay được đề cập đến trong can thiệp trẻ ASD là “ABA” và ‘các chương trình Hanen’ (với ‘More than Word’ và ‘Learning is Loving’… ). Tôi sẽ không đề cập đến chính xác 2 nội dung trên, vì có các chuyên gia rồi. Nhưng khi quan sát các chương trình này, tôi nhận ra những kiến thức khoa học cơ bản, giúp một nhà chuyên môn thực thụ nắm được vấn đề hoàn chỉnh, chứ không phải kiến thức phổ cập trong chương trình huấn luyện dành cho cha mẹ hoặc người chăm sóc. Những kiến thức này rất quan trọng cho các bác sĩ tâm thần, chuyên viên tâm lý lâm sàng, và chuyên viên ngôn ngữ trị liệu (tôi cũng không nhắc đến ở đây những vị trí nghề nghiệp mà ở VN chưa có tí tẹo nào kiểu như ‘bác sĩ Nhi phát triển’- mà nội dung của nó bao gồm tâm thần- tâm lý phát triển Nhi- mà nhiều tài liệu chuyển ngữ vẫn để nguyên, khiến các bậc cha mẹ không biết đi đâu để tìm).

Tôi trích dịch ở đây một nghiên cứu của Simon Baron-Cohen, nhưng sẽ chỉ dịch phần tổng quan và bàn luận của ông, nhằm mô tả một số khái niệm trong lĩnh vực tâm thần- tâm lý học, hỗ trợ các bạn sinh viên hoặc học viên tìm hiểu về vấn đề này. Simon Baron-Cohen phát triển lý thuyết “Theory of Mind”/ Lý thuyết Tâm trí cho người tự kỉ- nền tảng của ‘các chương trình Hanen’.

Công bố này từ 2001, nên phân loại bệnh tật còn chưa theo DSM5.

Ngoài ra, có một thực tế nữa là, các bài test tâm lý thường đòi hỏi bản quyền, bởi quá trình xây dựng công phu và hướng dẫn sử dụng chi tiết, thậm chí dụng cụ tiêu chuẩn đi kèm- cũng như vấn đề Việt hóa (yếu tố ngôn ngữ- văn hóa)- cũng như các test sinh lý đòi hỏi máy móc và hóa chất. Chúng ta cũng hay “trộm”, nên ý nghĩa của các test trong thực tế rất kém.

Sir Simon Baron-Cohen FBA FBPsS FMedSci (sinh ngày 15 tháng 8 năm 1958) là một nhà tâm lý học lâm sàng người Anh và là giáo sư về tâm bệnh học phát triển tại Đại học Cambridge. Ông là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tự kỷ của trường đại học và là thành viên của Đại học Trinity. Năm 1985, Baron-Cohen xây dựng lý thuyết ‘mù tâm trí trong tự kỷ’/ mind-blindness theory of autism, bằng chứng mà ông đối chiếu và công bố vào năm 1995. Năm 1997, ông xây dựng lý thuyết ‘steroid – giới tính thai nhi trong tự kỷ’, công trình được công bố vào năm 2015.

Ông cũng đã có những đóng góp lớn trong các lĩnh vực khác biệt về nhận thức điển hình trong giới tính, tỷ lệ phổ biến và sàng lọc tự kỷ, di truyền tự kỷ, hình ảnh thần kinh về người tự kỷ, khả năng tự kỷ và kỹ thuật, và thần kinh – synap thần kinh. Baron-Cohen đã được phong tước Hiệp sĩ trong Danh hiệu Năm mới 2021 vì đóng góp trong lĩnh vực người tự kỷ.

Trích dịch

Một thách thức đối với tâm lý học là phát triển các bài test nhạy cảm với rối loạn chức năng nhận thức tinh vi. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực nhận thức xã hội. Có rất nhiều bài test nhận thức xã hội cấp độ cơ bản để sử dụng cho trẻ nhỏ (Flavell, Green, & Flavell, 1986; Flavell, Shipstead, & Croft, 1978; Wellman, 1990; Wimmer & Perner, 1983). Tuy nhiên, có rất ít bài có thể đo lường được, liệu một người trưởng thành với trí thông minh bình thường, có thể bị thiếu hụt nhẹ về hiểu biết xã hội hay không. Các nhà nghiên cứu tâm lý học thần kinh người lớn đã phát triển một số bài test về nhận thức khuôn mặt (Young, Hellawell, De Wal, & Johnson, 1996), nhưng thường trong trường hợp bệnh nhân bị tổn thương não mắc phải, sự thiếu sót là thô chứ không phải là tinh tế. Ngược lại, trong các tình trạng phát triển thần kinh chẳng hạn như chứng tự kỷ hoặc hội chứng Asperger, sự thiếu sót trong nhận thức xã hội có thể kéo dài trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, những thiếu sót này có thể được ngụy trang, do kết quả của việc học các chiến lược bù đắp. Nếu không có một thử nghiệm tinh tế và nhạy cảm, chuyên viên có thể kết luận sai lầm rằng bệnh nhân “hồi phục” hoặc “bình thường”.

Trong những nỗ lực đầu tiên của chúng tôi nhằm phát triển một bài test dành cho người trưởng thành về độ nhạy cảm với xã hội, chúng tôi đã mô tả Bài kiểm tra “Đọc tâm trí trong mắt” (Baron-Cohen, Jolliffe, Mortimore, & Robertson, 1997). Trong bài test này, người tham gia được giới thiệu một loạt 25 bức ảnh chụp vùng mắt, trên khuôn mặt của các diễn viên khác nhau, và được yêu cầu chọn từ nào trong số hai từ mô tả chính xác nhất những gì người trong ảnh đang nghĩ hoặc cảm thấy. Bài test này được hình thành như một bài kiểm tra xem người tham gia có thể đặt mình vào tâm trí của người khác như thế nào và “điều chỉnh” trạng thái tinh thần của họ. Vì lý do này, chúng tôi đã mô tả nó như một ‘ test nâng cao về lý thuyết tâm trí’ ‘. “Lý thuyết về tâm trí” là thuyết về khả năng quy các trạng thái tinh thần cho bản thân hoặc người khác (Premack & Woodruff, 1978) và khả năng này là cách chính để chúng ta hiểu hoặc dự đoán hành vi của người khác. Lý thuyết về tâm trí còn được gọi là “trí óc” (Morton, Frith & Leshe, 1991), ‘đọc suy nghĩ’ (Whiten, 1991), và ‘trí thông minh xã hội’ (Baron-Cohen, Jolliffe, et al., 1999), và trùng lặp với thuật ngữ “thấu cảm”.

Phân tích nhiệm vụ của Eyes Test/ Bài kiểm tra Mắt có thể bao gồm những điều sau: Đối tượng cần có từ vựng về trạng thái tinh thần và biết ngữ nghĩa của các thuật ngữ này. Sau đó, Eyes Test bao gồm việc ánh xạ các thuật ngữ này thành các mảnh biểu hiện trên khuôn mặt của các trạng thái tinh thần – chỉ một phần của khuôn mặt xung quanh mắt. Ở mức độ vô thức, nhanh chóng và tự động được báo cáo, các đối tượng phải khớp ánh mắt trong mỗi bức ảnh với ví dụ về các biểu hiện vùng mắt được lưu trữ trong bộ nhớ và được nhìn thấy trong bối cảnh của các trạng thái tinh thần cụ thể để đi đến phán đoán từ nào là gần đúng nhất. Lưu ý rằng Eyes Test 1 được mô tả như một bài kiểm tra nâng cao về lý thuyết tâm trí nhưng trên thực tế chỉ liên quan đến giai đoạn đầu tiên của lý thuyết về tâm trí: ghi nhận trạng thái tinh thần có liên quan (ví dụ: lòng trắc ẩn). Nó không bao gồm giai đoạn thứ hai: suy ra nội dung của trạng thái tinh thần đó (ví dụ: cảm thương cho sự mất mát của mẹ cô ấy). Tuy nhiên, sự phân bổ của loại trạng thái tinh thần vẫn là một phần của lý thuyết về tâm trí, ngay cả khi nó không phải là tất cả.

Kết quả của bài kiểm tra này cho thấy nam giới trưởng thành trong dân số nói chung có điểm trung bình là 18,8 (SD = 2,5) trong khi phụ nữ đạt điểm đồng đều hơn một chút nhưng cao hơn đáng kể, với mức trung bình là 21,8 (SD = 1,8). Người lớn mắc chứng tự kỷ chức năng cao (HFA) hoặc Hội chứng Asperger (AS) có biểu hiện kém hơn đáng kể so với nhóm chứng bình thường, phù hợp với giới tính, hoặc người lớn mắc hội chứng Tourette (TS) (một rối loạn tâm thần khác và được đưa vào nhóm chứng bổ sung). Do đó, những người trưởng thành có HFA hoặc AS đạt điểm trung bình 16,3 trên 25 (SD = 2,9), trong khi người lớn có TS đạt điểm trung bình 20,4 trên 25 (SD = 2,6). Mặc dù đây chỉ là sự khác biệt 4 điểm, nhưng nó rất có ý nghĩa ở mức p <0,01. Nhóm có TS không có sự khác biệt đáng kể về bài test này so với dân số chung.

Do đó, chúng tôi đã thành công trong việc phát triển một bài kiểm tra về độ nhạy cảm xã hội hoặc khả năng đọc suy nghĩ, có thể tiết lộ những khó khăn tinh vi trong việc đọc suy nghĩ ở người lớn mắc chứng HFA hoặc AS. Điều này đã được dự đoán dựa trên sự thiếu hụt khả năng đọc hiểu cơ bản ở trẻ em mắc chứng tự kỷ (Baron- Cohen, 1995). Điều này cũng được quan tâm vì nó chứng minh rằng những người trưởng thành bình thường có thể đánh giá trạng thái tinh thần từ những dấu hiệu thậm chí rất nhỏ (chỉ biểu hiện xung quanh mắt). Sau khi thiết lập rằng khả năng để “đọc được suy nghĩ trong mắt” là có thể kiểm tra được, chúng tôi đã xem xét những cách thức kiểm tra có thể được cải thiện.

Các vấn đề với phiên bản gốc của bài kiểm tra

(1) Phiên bản đầu tiên của nhiệm vụ liên quan đến sự lựa chọn bắt buộc chỉ giữa hai tùy chọn phản hồi (hai từ được trình bày), do đó, hiệu suất cơ hội trên mỗi lần thử là p = 0,5. Do đó, trên toàn bộ bài kiểm tra sẽ cần phải đạt điểm 17 hoặc cao hơn trong số 25 để có cơ hội cao hơn đáng kể (Kiểm tra nhị thức). Điều này có nghĩa là phạm vi điểm mà bài kiểm tra có thể tiết lộ sự khác biệt của từng cá nhân trong khi vẫn có cơ hội cao hơn chỉ là 9 điểm (17-25). Đây là quá hẹp. Lý tưởng nhất, một bài kiểm tra như vậy sẽ có phạm vi rộng hơn, để có thể xác định sự khác biệt riêng lẻ với sức mạnh lớn hơn.

(2) Khi phiên bản đầu tiên của bài kiểm tra được trao cho các bậc cha mẹ có con mắc chứng AS, họ cũng đạt điểm dưới mức dân số chung (Baron-Cohen & Hammer, 1997). Điều này đã được dự đoán trên cơ sở rằng họ có thể có “kiểu hình rộng hơn” (Bailey và cộng sự, 1995), vì một hoặc cả hai bố mẹ như vậy có thể mang gen tự kỷ. Tuy nhiên, cha mẹ đạt điểm ở mức tương tự với những người có HFA hoặc AS (người cha đạt điểm trung bình 17,3 trên 25 (SD = 1,6) và người mẹ đạt điểm trung bình 18,9 (SD = 2,1), mặc dù họ không có tình trạng này). Điều này nhấn mạnh rằng bài kiểm tra có phạm vi điểm quá hẹp để có thể phân biệt giữa ai đó có “biến thể nhỏ hơn” / “kiểu hình rộng hơn” (ví dụ: trong người họ hàng cấp độ một của người mắc chứng tự kỷ) và ai đó với rối loạn thực sự.

(3) Phạm vi điểm hẹp cao hơn đáng kể so với cơ hội trong bài kiểm tra đầu tiên có thể dẫn đến điểm trong phạm vi bình thường gần với mức trần của bài kiểm tra. Hiệu ứng trần rõ ràng là không mong muốn bởi vì người ta mất quyền phát hiện sự khác biệt riêng lẻ.

Có hai sửa đổi đơn giản mà chúng tôi có thể thực hiện đối với bài kiểm tra để khắc phục ba hạn chế này: tăng số lượng mục trong bài kiểm tra và tăng số lượng tùy chọn phản hồi trên mỗi lần thử nghiệm. Trong phiên bản sửa đổi của bài kiểm tra được báo cáo trong bài báo này, chúng tôi đã thực hiện cả hai sửa đổi này: tổng số mục (ảnh) được tăng từ 25 lên 36 và số tùy chọn phản hồi (từ bắt buộc lựa chọn) được tăng lên từ 2 đến 4 cho mỗi lần dùng thử. Điều này có nghĩa là cơ hội là p = 0,25 cho mỗi lần thử và người đó chỉ cần đạt 13 điểm trở lên, trên tổng số 36, để có hiệu suất cao hơn cơ hội đáng kể (Kiểm tra nhị thức). Trên thực tế, điều này cung cấp một cửa sổ lớn hơn gồm 24 điểm (từ 13–36) để có thể tiết lộ sự khác biệt về khả năng của từng cá nhân trong bài kiểm tra này. Nó cũng làm giảm nguy cơ hiệu suất bình thường tiếp cận với mức trần của thử nghiệm.

(4) Phiên bản đầu tiên của bài kiểm tra bao gồm cả trạng thái tinh thần cơ bản và phức tạp, vì vậy có chứa một số mục quá dễ, và do đó có nguy cơ tạo ra hiệu ứng trần. Những cảm xúc cơ bản là vui, buồn, tức giận, sợ hãi và ghê tởm. Chúng là cơ bản vì chúng được công nhận trên toàn cầu; bởi vì chúng có thể được công nhận thuần túy là cảm xúc, mà không cần phải gán cho người đó một niềm tin; và bởi vì chúng được công nhận ngay cả bởi những đứa trẻ đang phát triển bình thường rất nhỏ (Ekman & Friesen, 1971, Harris, 1991; Walker, 1982). Ngược lại, các trạng thái tinh thần phức tạp liên quan đến việc ghi nhận một niềm tin hoặc ý định — một trạng thái tinh thần nhận thức — cho con người. Trong phiên bản sửa đổi của bài kiểm tra, chúng tôi đã giới hạn các mục ở trạng thái tinh thần phức tạp để làm cho nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn nhiều và bằng cách này, tăng khả năng đạt được nhiều hiệu suất hơn trong một mẫu ngẫu nhiên gồm người lớn.

(5) Trong phiên bản gốc, có một số mục có thể được giải quyết đơn giản bằng cách kiểm tra hướng nhìn của khuôn mặt. Các từ cho các mục như vậy là “chú ý” hoặc “phớt lờ”, v.v., (trạng thái tinh thần liên quan đến nhận thức), sao cho hướng nhìn có thể là tất cả những gì người tham gia cần chú ý để đi đến câu trả lời chính xác. Đây có thể là một manh mối quá dễ dàng đối với một người có khó khăn trong việc đọc suy nghĩ. Do đó, chúng bị loại trừ trong phiên bản sửa đổi của thử nghiệm.

(6) Phiên bản gốc có nhiều khuôn mặt nữ hơn khuôn mặt nam, và không rõ liệu điều này có thể làm sai lệch bài kiểm tra theo một cách nào đó hay không. Trong phiên bản sửa đổi của bài kiểm tra, điều này đã được kiểm soát cẩn thận bằng cách có số lượng khuôn mặt nam và nữ bằng nhau trong các bức ảnh. Ưu điểm của điều này là nó cho phép điều kiện kiểm soát — đánh giá giới tính bằng mắt — phù hợp chặt chẽ với điều kiện thử nghiệm — đánh giá trạng thái tinh thần từ mắt.

(7) Trong phiên bản gốc của bài kiểm tra, từ đích và từ ‘ngụy trang’ của nó luôn đối lập về mặt ngữ nghĩa (ví dụ: quan tâm so với không quan tâm, hoặc đồng cảm với không thông cảm), một lần nữa làm cho bài kiểm tra trở nên quá dễ dàng. Bài kiểm tra về cơ bản là yêu cầu người tham gia phân biệt phấn với pho mát, hoặc đen với trắng – trong trường hợp này, yêu cầu họ phân biệt giữa các trạng thái tinh thần có giá trị cảm xúc trái ngược nhau (tích cực và tiêu cực). Trong phiên bản sửa đổi của thử nghiệm, chúng tôi đã một lần nữa tăng mức độ khó bằng cách đảm bảo rằng càng xa càng tốt ba từ ‘ngụy trang’ có cùng giá trị cảm xúc với từ đích. Ví dụ: nếu từ đích là ” nghiêm trọng”, thì các từ ‘ngụy trang’ có thể là “xấu hổ”,” hoảng hốt” và “hoang mang”. Điều này hiệu quả có nghĩa là một người phải phân biệt từ mục tiêu chính xác từ ba ‘ngụy trang’ thân cận, trong mỗi lần thử nghiệm. Do đó, chúng tôi đang thử nghiệm khả năng phân biệt các sắc thái của màu xám, hoặc các loại pho mát khác nhau, để tăng thêm tính chất thử thách của bài kiểm tra, do đó tối đa hóa khả năng tiết lộ sự khác biệt tinh tế của từng cá nhân. 

(8) Cuối cùng, do bài Eyes Test liên quan đến việc ánh xạ một từ vào một bức tranh, nên không rõ liệu các vấn đề về khả năng hiểu với chính các từ đó có thể góp phần vào điểm của một cá nhân hay không. Đây là mối quan tâm đặc biệt đối với một nhóm bệnh nhân HFA, họ bị chậm phát triển ngôn ngữ. Trong phiên bản sửa đổi của thử nghiệm này, chúng tôi đã khắc phục sự cố này bằng cách đưa vào

bảng thuật ngữ của tất cả các thuật ngữ trạng thái tinh thần, mà đối tượng được khuyến khích tham khảo trong bất kỳ trường hợp nào mà họ không chắc chắn về một từ nào đó.

Nghiên cứu dưới đây báo cáo dữ liệu từ phiên bản sửa đổi của thử nghiệm này và có một số mục tiêu bổ sung. (1) Để kiểm tra một nhóm người lớn mắc AS hoặc HFA trên phiên bản đã sửa đổi của bài kiểm tra. Điều này là để kiểm tra xem sự thiếu sót trong nhóm bệnh nhân này đã được tìm thấy trên phiên bản gốc (Baron-Cohen, Jolliffe, et al., 1997) và các xét nghiệm liên quan (Baron-Cohen, Wheelwright, & Jolliffe, 1997) có thể được nhân rộng. (2) Để kiểm tra xem trong một mẫu người lớn bình thường, sẽ tìm thấy mối tương quan nghịch giữa thành tích trong bài Eyes Test (Đã sửa đổi) và Chỉ số phổ tự kỷ (AQ) (Baron-Cohen & Wheelwright). AQ đo lường mức độ mà bất kỳ cá nhân (người lớn) nào có chỉ số IQ bình thường đều sở hữu các đặc điểm liên quan đến ‘phổ’ tự kỷ (Wing, 1988). AQ là một bảng câu hỏi tự báo cáo. Điểm nằm trong khoảng từ 0–50, và điểm càng cao thì một người càng sở hữu nhiều đặc điểm tự kỷ. (3) Để kiểm tra xem sự khác biệt về giới tính (ưu thế nữ) được tìm thấy trong phiên bản đầu tiên của thử nghiệm (Baron-Cohen, Jolliffe, et al., 1997) có lặp lại hay không.

Thảo luận

Nghiên cứu này báo cáo dữ liệu quy chuẩn về Eyes Test được sửa đổi cho người lớn. Các sửa đổi được thiết kế để làm cho bài test này trở thành một thước đo nhạy cảm hơn về trí thông minh xã hội của người trưởng thành. Như đã hy vọng, những sửa đổi từ phiên bản gốc đã dẫn đến hiệu suất bình thường thấp hơn đáng kể mức trần. Điều này quan trọng nếu bài test không phải là phân biệt hiệu suất cực đoan và thay vào đó phát hiện những khác biệt có ý nghĩa của từng cá nhân. Nghiên cứu này lặp lại phát hiện trước đó rằng người lớn mắc AS hoặc HFA bị suy giảm đáng kể trong các bài test như vậy, trong khi họ không bị suy giảm trong test kiểm soát nhận dạng giới tính (Baron-Cohen, Jolliffe, et al., 1997; Baron-Cohen, Wheelwright, et al., 1997). Do đó, điều này xác nhận Eyes Test là một bài test hữu ích để xác định những khiếm khuyết tinh vi trong trí thông minh xã hội ở những người trưởng thành thông minh bình thường.

Trong một loạt các nghiên cứu trường hợp đơn lẻ, chúng tôi cũng phát hiện ra rằng thử nghiệm này phân biệt những người trưởng thành có chức năng rất cao mắc AS \ HFA với các nhóm chứng (Baron-Cohen, Wheelwright, Stone, & Rutherford, 1999). Eyes Test đã được chỉnh sửa có thể phù hợp với các nhóm lâm sàng ngoài những nhóm mắc chứng tự kỷ (ví dụ: bệnh nhân bị tổn thương não sau phẫu thuật cắt bỏ hạch hạnh nhân hoặc tổn thương vỏ não trước trán). Thử nghiệm gần đây đã được sử dụng với các nhóm này (Stone, Baron- Cohen, & Knight, 1999; Stone, Baron-Cohen, Young, & Calder, 1998). Gần đây chúng tôi đã phát triển một phiên bản con của thử nghiệm này, được báo cáo riêng (Baron-Cohen, Wheel- wright, Spong, Scahill, & Lawson, trên báo chí). Eyes Test cho Người lớn đã được sử dụng trong fMRI, cho thấy hoạt động của hạch hạnh nhân trong não bình thường (nhưng không phải trong não người tự kỷ) (Baron-Cohen, Ring, et al., 1999).

Trong nghiên cứu này, giữa nhóm đối chứng dân số nói chung và nhóm sinh viên, có xu hướng chênh lệch giới tính (ưu thế nữ) (p= .07). Điều này lặp lại sự khác biệt giới tính được tìm thấy trong phiên bản trước của thử nghiệm này. Một lý do có thể khiến sự khác biệt về giới tính không đạt được ý nghĩa với thử nghiệm mới là nếu kích thước ảnh hưởng là tương đối nhỏ, cơ hội phát hiện ra sự khác biệt về giới tính sẽ thấp. Không có mối tương quan đáng kể nào giữa IQ và Eyes Test, cho thấy điều này không phụ thuộc vào trí thông minh nói chung (phi xã hội).

Hiệu suất trong bài kiểm tra mắt được sửa lại tương quan nghịch với hiệu suất trên chỉ số phổ tự kỷ (AQ), cho thấy rằng cả hai đều đo lường mức độ của các đặc điểm tự kỷ trên phổ danh nghĩa (Wing, 1988). AQ không phải là chẩn đoán nhưng có thể đóng vai trò như một công cụ hữu ích để định lượng mức độ “trường hợp” của một cá nhân về AS \ HFA, đo lường các đặc điểm tính cách. Các kết quả hiện tại xác nhận phát hiện trước đó của chúng tôi rằng những người trưởng thành có HFA hoặc AS đạt điểm AQ cao hơn đáng kể so với những người kiểm soát dân số nói chung.

Một lời chỉ trích đối với Eyes Test được sửa đổi có thể là, ngay cả với những sửa đổi mới, các kích thích là tĩnh, trong khi thế giới thực thì không. Các nghiên cứu trong tương lai có thể sử dụng một cách hữu ích các kích thích động của biểu hiện mắt. Tuy nhiên, các kích thích tĩnh làm cho bài kiểm tra nhanh chóng và dễ sử dụng, vì nó có thể được thực hiện như một bài kiểm tra ‘bút chì và giấy’. Trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, chúng tôi cũng đang thử nghiệm trình chiếu bằng máy tính về các kích thích mắt để ghi lại thời gian phản ứng trong các phán đoán của đối tượng về thuật ngữ trạng thái tinh thần phù hợp nhất để khớp với từng bức tranh. Các phương pháp tiếp cận tốc độ xử lý như vậy có thể là một cách hiệu quả để khám phá sự khác biệt của từng cá nhân trong nhiệm vụ này. Tuy nhiên, rõ ràng là ngay cả một định dạng tĩnh cũng đủ để tiết lộ sự khác biệt của nhóm. Eyes Test là một ví dụ về cách các phương pháp thử nghiệm có thể được áp dụng cho lĩnh vực xã hội.

Y học thể thao- góc nhìn từ chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Y học thể thao không quá mới lạ. Người ta nhìn thấy các bóng áo trắng, hay xe cấp cứu chạy tới chạy lui trong các trận đấu hay giải đua. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có nhiều ‘vận động viên giải trí’, nghĩa là bất kì ai trong chúng ta, khi tham gia một hoạt động thể thao nào đó, có khi chỉ là đi bộ, hay tập yoga. Vì thế, việc tìm hiểu xem ngành y học này đã có những thành công gì trở nên cấp thiết, đặc biệt với các nhà chuyên môn. Bài viết được soạn theo tác giả Michael Kjaer và cộng sự 2003, nên có thể có lỗi do cập nhật kém vì y học phát triển khá mạnh mẽ trong gần 20 năm qua.

Con người khi tập luyện: một cỗ máy tích hợp

Các ranh giới sinh lý đã mê hoặc con người trong một thời gian dài, và những thành tích như leo lên đến hơn 8800m so với mực nước biển không cần cung cấp oxy hoặc lặn xuống hơn 150m trong nước không có thiết bị lặn đặc biệt, là giới hạn mà sách giáo khoa đã cho chúng ta biết, có thể đạt được đối với con người. Tương tự như vậy, các vận động viên tiếp tục đặt ra các tiêu chuẩn mới trong thành tích thể thao và những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính có thể làm chủ được các nhiệm vụ thể chất có tính chất rất khó khăn, như chạy marathon, mà cho đến nay, vẫn được cho là không thể.

Cơ, gân và xương được kết hợp với nhau một cách tinh tế để tạo ra một hệ thống vận động hiệu quả, và cùng với sụn khớp và dây chằng, chúng cho phép hoạt động thể chất thực hiện ở nhiều dạng khác nhau. Để cung cấp năng lượng cho các cơ co lại, thông khí thường tăng 20–40 lần, và chức năng bơm tim có thể tăng lên gấp 6 lần trong quá trình tập luyện gắng sức ở những người được vận động tốt, nhằm cung cấp đủ oxy, để cho phép các quá trình oxy hóa liên quan có thể xảy ra chỉ trong vài giây. Ngoài ra, cơ xương hoạt động bằng cách luyện tập có thể đạt được sự gia tăng đáng kể về khả năng vừa dự trữ năng lượng, vừa khai thác và sử dụng oxy. Về khả năng chịu đựng, con người vẫn còn điểm yếu với một thực tế là kích thước của tim so với cơ xương là tương đối nhỏ — ngay cả ở những vận động viên chạy hạng nhất — về cơ bản, so với tất cả các loài động vật khác.

Để điều khiển bộ máy cơ thể con người, các kho chứa ở tại chỗ cũng như ở xa hơn, cung cấp nhiên liệu để đốt cháy năng lượng, cho phép các bài tập thể dục kéo dài. Sự tác động qua lại có kiểm soát giữa cường độ tập luyện, quá trình chuyển hóa năng lượng và hormone điều tiết diễn ra, và việc tiêu thụ các thức ăn dự trữ khác nhau có thể khiến cơ bắp điều chỉnh quá trình đốt cháy nhiên liệu ở một mức độ lớn. Sự khởi đầu của các tín hiệu từ các trung tâm vận động để bắt đầu chuyển động tự nguyện, và các tín hiệu hướng tâm từ cơ co lại tương tác để đạt được điều này, cũng như một số con đường tín hiệu để kiểm soát tuần hoàn và trao đổi chất hiện đã được xác định. Bộ não có thể làm cho các cơ vận động, đồng thời có thể sử dụng các chất làm nhiên liệu xuất ra từ cơ bắp. Hơn nữa, việc hấp thụ các nguồn thực phẩm khác nhau có thể khiến cơ bắp điều chỉnh quá trình đốt cháy nhiên liệu, ở một mức độ lớn.

Việc tập luyện có thể gây ra sự thích nghi lớn của mô và cơ quan, và ai cũng biết rằng điều này ở một mức độ lớn, phụ thuộc vào cả yếu tố di truyền và khả năng tập luyện. Các nghiên cứu gần đây hơn về các cặp song sinh giống hệt nhau đã cho phép phân biệt hai yếu tố này, liên quan đến tập luyện thể dục, và đã chỉ ra rằng, từ 30 đến 50% sự thay đổi trong các thông số như hấp thụ oxy tối đa hoặc sức mạnh cơ bắp, có khả năng là do yếu tố di truyền. Thay vì con người cảm thấy bị ngăn cản khi bắt đầu tập luyện trên nền tảng này, điều thú vị là, chúng ta xác định các yếu tố chịu trách nhiệm cho việc cải thiện tập luyện, ví dụ, mô cơ. Rõ ràng là lực co bóp có thể tạo ra quá trình phiên mã và dịch mã, để tạo ra những thay đổi liên quan về số lượng protein cho co bóp hoặc hoạt động ty thể, tuy cơ chế cơ bản ở cả mô cơ và mô liên kết vẫn chưa được hiểu rõ. Điều thú vị là, các chất hiện đang được xác định (ví dụ: protein kinase phân bào được kích hoạt), trong đó các loại phân nhóm, được kích hoạt khác nhau bởi stress trong chuyển hóa hoặc mức độ co bóp, để gây ra tăng khả năng oxy hóa tế bào hoặc phì đại tế bào cơ, tương ứng. Do đó, chúng ta đang ở thời điểm mà chúng ta có thể bắt đầu thành thạo hơn trong việc nghiên cứu sự thích nghi của cơ thể con người không chỉ đối với việc tập luyện trong ngắn hạn, mà còn đối với việc nạp năng lượng và sự quá tải, và điều này sẽ cung cấp cho chúng ta những điều kiện tiên quyết để nghiên cứu về tiềm năng thích ứng cuối cùng mà cơ thể con người đạt được, và do đó cũng mô tả tốt hơn ở cấp độ cá nhân tại sao mô trở nên quá tải và bị thương.

Sự cân bằng mong manh giữa sự thích nghi trong tập luyện và chấn thương — tình trạng khó khăn trong việc phục hồi

Điều quan trọng đối với bác sĩ lâm sàng điều trị cho vận động viên giải trí hoặc vận động viên chuyên nghiệp, là phải hiểu biết thấu đáo về chấn thương, cũng như khả năng của mô bị ảnh hưởng, để thích ứng với bất động, cố định và tập luyện. Một ví dụ là độ khả biến đáng kể mà mô cơ xương thể hiện. Mặc dù sức mạnh bị mất (lên đến 60%) nhanh chóng trong vòng vài tuần sau khi bất động, nó có thể được phục hồi trong vài tháng tiếp theo và sức mạnh có thể tăng lên gấp 2 lần khi luyện tập trong thời gian dài (tháng / năm). Mất xương cũng (lên đến 40%) xảy ra nhanh chóng trong vòng vài tuần sau khi bất động và sau đó sẽ lấy lại được trong những tháng phục hồi sau đó. Tuy nhiên, ngược lại với cơ bắp, thời gian tập luyện kéo dài có tác động tương đối khiêm tốn đến việc nâng mô xương. Mất mô liên kết ở gân cũng có thể so sánh với cơ và xương; tuy nhiên, ngược lại, quá trình trao đổi chất chậm hơn của nó có lẽ cần đến 12 tháng hoặc hơn trước khi mô phục hồi hoàn toàn sau chấn thương và bất động sau đó. Do đó, một chấn thương đòi hỏi một chi phải bất động trong một khoảng thời gian nhất định, và cần những khoảng thời gian khác nhau để các mô khác nhau trở lại mức trước chấn thương. 

Trong bối cảnh này, điều quan trọng đối với bác sĩ lâm sàng là lưu ý rằng, hệ thống tim mạch phục hồi nhanh nhất sau một thời gian tương đối không hoạt động, điều này có thể tạo ra một tình huống tiến thoái lưỡng nan: vận động viên muốn đưa chương trình phục hồi và đào tạo lên cấp độ mới và thử thách, nhưng các mô khác nhau có thể không chịu được tải trọng trong tương quan với nhau, và có thể dẫn đến tái chấn thương, hoặc cái gọi là ‘chấn thương quá tải’. Do đó, hiểu biết thấu đáo về cách các mô thích ứng với hoạt động thể chất hoặc sự thiếu thích ứng giữa các mô tương quan là điều tối quan trọng để điều trị và phục hồi hiệu quả cho người bị thương.

Mặc dù chấn thương cấp tính trong quá trình tập luyện có thể dễ hiểu một cách trực quan, nhưng việc nắm bắt các chấn thương âm ỉ và thường xuyên xảy ra khi tập luyện có thể khó khăn hơn. Một số quan sát quan trọng trong lĩnh vực y học thể thao đã được thực hiện trong những thập kỷ gần đây đã nâng cao hiểu biết của chúng ta về những chấn thương này. Tất nhiên, nhận thức về kiểu hoạt động của bộ phận cơ thể là rất quan trọng. Vận động viên giải trí chạy 5km / tuần có thể khiến mỗi chi dưới phải chịu khoảng 2100 lần nâng và hạ trong khoảng thời gian đó. Ngược lại, vận động viên chạy đường dài chạy 100km / tuần có thể khiến mỗi chi dưới phải chịu khoảng 38000 lần hạ và nâng chân. Rõ ràng, một mức độ thích ứng mô tương quan nhất định đã diễn ra để chịu được những mức tải trọng khác nhau rất lớn này, nhưng tuy nhiên, chấn thương có thể gặp phải bởi cả vận động viên giải trí và vận động viên chuyên nghiệp, và do đó vẫn là một bí ẩn. Điều thú vị là, mức độ hoạt động mô hàng tuần do tham gia thể thao tương đương với mứ độ hoạt động, được các cơ quan chức năng quốc gia thiết lập như giới hạn trên, cho những gì có thể chịu đựng được đối với lao động chân tay, cho thấy, có lẽ có một giới hạn cố hữu đối với việc mức độ hoạt động mô.

Sự liên kết bất lợi, chẳng hạn như bàn chân bẹt hoặc chân chữ X, có thể là các yếu tố quan trọng trong việc xác định ai có thể chịu được một mô hình hoạt động nhất định, mặc dù các yếu tố bên trong đó không thể giải thích hoàn toàn các chấn thương do sử dụng quá mức. Người ta thường chấp nhận rằng, phải mất thời gian đáng kể để các mô như mô liên kết thích ứng với nhu cầu mới hoặc nhu cầu ngày càng tăng, ngay cả đối với những trường hợp ngẫu nhiên nhất về mặt di truyền. Do đó, bất kỳ sự tiến bộ hoặc thay đổi mong muốn nào trong một chương trình tập luyện nên diễn ra từ từ. Tuy nhiên, thông tin chi tiết hơn về tần suất, thời lượng và cường độ tập luyện cần thiết để tránh chấn thương, thì hiện đang thiếu, và do đó các nỗ lực phòng ngừa về mặt này vẫn còn khó khăn. Đồng thời, người ta ngày càng đánh giá cao rằng các mô cần thời gian phục hồi để ‘thích nghi’ với đợt hoạt động thể chất trước đó. Ví dụ, điều này được áp dụng vào thực tế bởi các vận động viên ba môn, người có thể hoạt động đáng kể trên hệ thống tim mạch hàng ngày, nhưng lại là stress cho hệ cơ-xương, khi luyện tập đạp xe, chạy hoặc bơi lội xoay vòng với nhau, điều mà vốn là có thể giúp tránh chấn thương. Trong thời gian phục hồi, các mô được phục hồi, hoặc thậm chí thích ứng hơn nữa với nhu cầu ngày càng tăng bằng cách mở rộng số lượng hoặc nâng cao chất lượng của chúng. Có khả năng trong những năm tới các nhà nghiên cứu sẽ cung cấp các kỹ thuật đo lường mới và cải tiến để mang lại thông tin chi tiết quan trọng về sự thích ứng của mô đối với hoạt động thể chất và phục hồi.

Chấn thương thể thao và phát triển điều trị: từ thể thao giải trí đến vận động viên chuyên nghiệp

Trong nhiều tình huống, sự chuyển đổi từ các triệu chứng quá tải sang chấn thương thể thao không được xác định và hiểu rõ. Nghiên cứu chuyên sâu về giải phẫu, sinh hóa, sinh lý và cơ chế thích ứng của mô với tải trọng cơ học là cần thiết để cung cấp những hiểu biết cơ bản về cơ chế bệnh sinh của chấn thương quá tải. Mặc dù điều này tự nó thể hiện một thách thức tối quan trọng, nhưng dường như vẫn còn khó khăn để hiểu được khả năng phát triển các triệu chứng của một cá nhân. Tại sao một cá nhân bị đau gân Achilles nghiêm trọng liên quan đến một mức độ hoạt động chạy nhất định, trong khi những người khác thì không? Tại sao các hoạt động trên cao rất đau đối với một số vận động viên mà không phải đối với những người khác? Tại sao sự ổn định chức năng của khớp gối bị thiếu dây chằng chéo sau hoặc khớp cổ chân không ổn định về mặt cơ học, lại khác nhau giữa người với người, mặc dù cùng mức độ hoạt động? Rõ ràng sẽ là điều cần thiết để xác định mối liên hệ yếu nhất trong từng trường hợp riêng lẻ, nhưng kiến ​​thức về các yếu tố cụ thể của từng cá nhân là rất không đầy đủ. Có thể có các mức độ khác nhau về mặt sinh lý để bắt đầu các triệu chứng ở những người khác nhau không? Ai cũng biết rằng những người bị giảm cảm giác đầu vào, ví dụ như do bệnh viêm đa dây thần kinh do tiểu đường gây ra, có tỷ lệ cao bị thương do quá tải như viêm gân hoặc gãy xương do áp lực, đơn giản là vì hệ thống báo động tự nhiên không hoạt động. Ví dụ, nếu sự khác biệt về mặt sinh lý học về ngưỡng đầu vào cảm giác ở những người khỏe mạnh, thì sự khác biệt giữa tải trọng cơ học gây ra các triệu chứng và tải trọng dẫn đến tổn thương mô sẽ khác nhau ở mỗi người.

Điều trị chấn thương thể thao đại diện cho những thách thức lớn. Đầu tiên, mục đích để giảm các triệu chứng là do vận động viên yêu cầu, và một số phương pháp điều trị bằng thuốc sẽ có hiệu quả tốt khi nghỉ ngơi, nhưng sẽ không giảm đau khi người đó tập luyện. Thứ hai, khi điều trị phẫu thuật được chỉ định để sửa chữa những thay đổi không thể phục hồi của mô (ví dụ như đứt dây chằng chéo trước và sau của đầu gối) hoặc để thay đổi mô hình vận động kém hoặc không đủ cơ sinh học (ví dụ như mất ổn định đa hướng ở vai) thì các thủ thuật cần phải xâm lấn tối thiểu để giữ lại các mô còn lại nguyên vẹn nhất có thể và cho phép quá trình tái tạo nhanh chóng. Thứ ba, các quy trình phục hồi và thời gian cho phép để phục hồi sẽ bị thách thức. Điều này là do các vận động viên rất mong muốn trở lại với các môn thể thao của họ. Ở khía cạnh này, có thể rút ra những điểm tương đồng đối với y học lao động và phục hồi chức năng, nhằm mục đích đưa bệnh nhân trở lại mức chức năng cần thiết để thực hiện một công việc lao động nhất định.

Trái ngược với những điều ít biết về các yếu tố dựa trên cá nhân, ngày càng có nhiều kiến ​​thức về cơ chế chấn thương trong thành tích thể thao. Một số thực thể bệnh lý cụ thể đã được công nhận, đặc biệt là trong hai thập kỷ qua, ví dụ: tác động thứ cấp và tác động bên trong của vai ở các vận động viên trên cao. Trên cơ sở nhận biết một số dạng tổn thương phổ biến và hiểu cơ chế bệnh sinh của chúng, các phương pháp điều trị đặc biệt – phẫu thuật cũng như không phẫu thuật – đã được phát triển. Có lẽ chấn thương đầu tiên được công nhận là một tổn thương cụ thể liên quan đến hoạt động thể thao là tổn thương Bankart của vai, được mô tả vào năm 1923, và cách để sửa chữa tổn thương là rõ ràng khi nền bệnh lý được thiết lập. Tương tự, khi tổn thương SLAP của xương đòn ở vai được mô tả lần đầu tiên cách đây khoảng 10 năm, các lựa chọn điều trị phẫu thuật có thể được xác định.

Nội soi khớp, được giới thiệu để điều trị các rối loạn khớp gối vào năm 1968 và được phát triển để điều trị các rối loạn ở vai, khuỷu tay và mắt cá chân vào những năm 1990, đã giúp hình dung trực tiếp chuyển động khớp và các cấu trúc nội khớp, đồng thời nâng cao hiểu biết của nhiều người về chấn thương thể thao ở khớp. Đối với từng vận động viên, nó đã dẫn đến chẩn đoán và điều trị cụ thể hơn nhiều, và do đó việc phục hồi chức năng trở nên nhanh hơn và dễ dàng hơn so với sau khi phẫu thuật mở. Hơn nữa, sự phát minh và phát triển của hình ảnh cộng hưởng từ vào đầu những năm 1990, và sự cải tiến và tính khả dụng chung của siêu âm chẩn đoán trong cuối những năm 1990, đã làm tăng đáng kể phổ của các công cụ chẩn đoán. Điều vẫn cần chú ý cụ thể là việc sử dụng tương đối các bổ sung cận lâm sàng này so với việc khám và đánh giá lâm sàng tốt. Không còn nghi ngờ gì nữa, các ‘máy công cụ’ mới, được phát triển để giúp người tập y học thể thao, có xu hướng ‘được sử dụng quá mức’ trong giai đoạn đầu, thường được theo sau bởi giai đoạn cân bằng hơn, trong đó rõ ràng bệnh sử và khám lâm sàng không bao giờ có thể được thay thế bằng các công cụ cận lâm sàng, nhưng công cụ này sẽ bổ sung hiệu quả cho quá trình chẩn đoán trong y học thể thao.

Việc thu thập thông tin lâm sàng về các tình trạng triệu chứng ở các vận động viên có thể dẫn đến việc xác định các mẫu đồng nhất và các phương thức điều trị dựa trên logic. Hàng loạt bệnh nhân được điều trị cũng có thể cung cấp thông tin về tỷ lệ thành công của một số phương pháp điều trị nhất định, trong khi chỉ có các nghiên cứu ngẫu nhiên mới có thể xác định chiến lược điều trị tốt nhất trong một tình trạng cụ thể. Thật không may, có rất ít nghiên cứu ngẫu nhiên trong y học thể thao và đặc biệt là trong lĩnh vực chấn thương. Điều này thường là do nhu cầu điều trị cao để đảm bảo phục hồi nhanh và trở lại tham gia thể thao, và không chắc có hơn một phần nhỏ các phương thức điều trị phẫu thuật và không phẫu thuật sẽ được đánh giá bằng các nghiên cứu ngẫu nhiên. Mặc dù hơn 60000 ca tái tạo dây chằng chéo trước (ACL) được thực hiện hàng năm ở Hoa Kỳ, nhưng vẫn chưa rõ chiến lược điều trị nào là có lợi nhất. Có các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định thực hiện tái tạo ACL: cơ hội để trở lại thể thao, phòng ngừa chấn thương sụn chêm và tổn thương thứ phát, ngăn ngừa các đợt tái phát, nguy cơ đau đầu gối trước hoặc các biến chứng phẫu thuật khác. Không có bằng chứng về việc các yếu tố này nên được cân nhắc như thế nào, và không rõ liệu việc tái tạo thường quy ở tất cả bệnh nhân ngay sau chấn thương ACL có làm giảm nguy cơ biến chứng muộn, và tăng mức độ hoạt động tốt hơn cách tiếp cận thận trọng hơn, là với phục hồi chức năng như điều trị chính hay không. Điều rất quan trọng là phải thực hiện các thử nghiệm ngẫu nhiên cùng lúc với các phương pháp điều trị mới được giới thiệu, vì hầu như không thể quay lại các nghiên cứu như vậy sau này.

Hầu hết các chương trình phục hồi chức năng đều dựa trên kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm lâm sàng và các nguyên tắc lý thuyết. Cũng giống như điều trị phẫu thuật, vẫn còn thiếu bằng chứng về tác dụng của một số nguyên tắc điều trị chung. Phục hồi chức năng là rất tốn kém, và mong muốn là phát triển thêm các chiến lược phục hồi chức năng dựa trên bằng chứng.

Các công nghệ mới có thể sẽ ảnh hưởng đến việc điều trị chấn thương thể thao trong tương lai gần. Sự sẵn có của các yếu tố tăng trưởng tại chỗ có thể làm giảm thời gian sửa chữa và tu sửa sau chấn thương hoặc phẫu thuật. Scaffolds có thể được sử dụng để tạo một cấi trúc đặc biệt. Chúng có thể được tiếp nhận bởi mô sống và kết hợp với sự biểu hiện gen được kiểm soát, mô bị thương có thể được phục hồi hoàn toàn. Điều này sẽ góp phần tránh tái tạo với mô thay thế và phục hồi dưới mức tối ưu đi kèm, cũng như đảm bảo không có mô sẹo được nhìn thấy trong quá trình sửa chữa.

Trong các vận động viên giải trí, nhiều tình trạng quá tải thường tự giới hạn. Hệ thống báo động tự nhiên hoạt động: quá tải các mô thường dẫn đến các triệu chứng (thường là đau) rất lâu trước khi những thay đổi không thể đảo ngược của cấu trúc mô xảy ra. Với việc giảm dần hoạt động, các triệu chứng và quá tải biến mất, và vận động viên có thể tiếp tục hoạt động bình thường trở lại. Khuỷu tay Tennis là một ví dụ điển hình cho cơ chế này. Trong một mùa giải, khoảng 50% người trung niên thực hiện các môn thể thao quần vợt giải trí sẽ gặp phải các triệu chứng của khuỷu tay quần vợt. Phần lớn các trường hợp này tự giải quyết mà không cần điều trị cụ thể. Hiện tượng thú vị là, tại sao con người thường tiếp tục tập luyện bất chấp các triệu chứng và dấu hiệu của việc sử dụng quá mức. Điều thú vị là các phản ứng viêm bên trong và xung quanh gân được thấy ở người và ở một số loài động vật buộc phải chạy như ngựa đua, trong khi hầu hết các loài khác (như chuột nhắt, chuột đồng hoặc thỏ) không có dấu hiệu của viêm gân hoặc viêm quanh gân mặc dù chế độ hoạt động gắng sức. Các vận động viên chuyên nghiệp có thể được thúc đẩy để tiếp tục đạt phong độ đỉnh cao bất chấp cơn đau hoặc các triệu chứng khác, và quá trình sửa chữa tự nhiên có thể khó hoặc không thể diễn ra. Chúng ta vẫn chưa hiểu biết đủ về sửa chữa và phục hồi mô để xác định hoạt động tối đa ở mỗi cá nhân tương thích với việc sửa chữa đầy đủ và nhanh chóng.

Ranh giới giữa tình trạng bình thường, chấn thương có thể đảo ngược và không thể đảo ngược, tàn tật vẫn phải được xác định trong nhiều môn thể thao. Ví dụ, có một cuộc thảo luận đang diễn ra về nguy cơ tổn thương não mãn tính trong đấm bốc. Hơn nữa, gần như không có gì được biết về tác dụng lâu dài của việc tiếp tục hoạt động thể thao chuyên nghiệp đối với những thay đổi thoái hóa ở đầu gối sau khi tái tạo ACL. Với việc thiếu bằng chứng về hậu quả thể chất của chấn thương thể thao, các cân nhắc về đạo đức có một vị trí trung tâm trong việc tư vấn và lập kế hoạch. Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý như thi đấu (các trận đấu chỉ chiếm dưới 25% thời gian thi đấu tích cực trong môn bóng ném hạng ưu, hơn 90% chấn thương xảy ra ở ACL), sự tự tin và chấp nhận giới hạn cá nhân phải được thừa nhận, và kiến ​​thức sâu hơn được đòi hỏi.

Rèn luyện thân thể thường xuyên: lợi ích và hạn chế

Trong hơn 5000 năm, tập thể dục hoặc thể thao có hệ thống đã được thực hiện trên toàn thế giới, và người ta có thể dễ dàng coi những cá nhân trung bình sống ngày nay ít hoạt động hơn nhiều so với trước đây. Ngày càng có nhiều tài liệu khoa học chứng minh rằng lười vận động là một yếu tố nguy cơ chính dẫn đến bệnh tật và tử vong sớm, và mức độ của điều này nằm ở mức độ của các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc, béo phì hoặc uống rượu. Các nghiên cứu đã kết luận thống nhất rằng, tích cực hoặc bắt đầu hoạt động thể chất ngay cả khi tuổi cao sẽ ảnh hưởng tích cực đến các yếu tố nguy cơ phát triển các bệnh liên quan đến lười vận động. Mặc dù thực tế là tập luyện trong ngắn hạn có liên quan đến nguy cơ ngừng tim tăng thoáng qua, được xem xét trong một số nhóm dân số, nhưng người ta thấy rằng điều trị chấn thương thể thao tốn kém (tính toán kinh tế xã hội cho thấy rằng, đối với các vận động viên giải trí, chi phí này này vượt xa so với lợi ích tiết kiệm chi phí của việc rèn luyện phù hợp thể chất,- như tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, khả năng hồi phục ngoài bệnh viện sau khi bị bệnh nói chung nhanh hơn, cũng như tần suất nhiễm trùng thấp hơn và thời gian phải nghỉ việc do ốm đau ngắn hơn). Do đó, lĩnh vực y học thể thao đang phải đối mặt với một thách thức lớn trong việc tham gia cải thiện mức độ hoạt động thể chất trong dân số nói chung, và thiết lập các hướng dẫn tổng thể, chứ không chỉ tập trung ở mảng thể thao chuyên nghiệp.

Rèn luyện thân thể và bệnh nhân mắc bệnh mãn tính

Các bệnh cấp tính và mãn tính có liên quan đến cả các biểu hiện cụ thể của cơ quan, cũng như do rối loạn chức năng nói chung do ít hoạt động thể chất, và đôi khi có thêm cả sự tác động liên quan đến nội tiết tố và cytokine. Nói chung, rèn luyện thể chất có thể chống lại các rối loạn chức năng nói chung, và thậm chí có thể ảnh hưởng hoặc ngăn ngừa các biểu hiện ban đầu của bệnh. Điều quan trọng cần lưu ý là các khía cạnh động lực, cũng như các yêu cầu về giám sát và hướng dẫn, ở bệnh nhân đang mắc bệnh khác rõ rệt so với những người tập luyện đang khỏe mạnh.

Về nguyên tắc, hầu hết các bệnh đều có thể kết hợp với một mức độ hoạt động thể chất nhất định, nhưng mức độ hạn chế đối với bệnh nhân có sự khác biệt đáng kể giữa các bệnh. Một số bệnh đã được chứng minh là có hiệu quả nhiều từ hoạt động thể chất (ví dụ như bệnh thiếu máu cơ tim, tiểu đường type 2), trong khi các bệnh khác được biết là tương đối kém nhạy cảm với tập luyện khi có các biểu hiện bệnh chính (ví dụ như bệnh phổi mãn tính, bệnh tiểu đường type 1). Tuy nhiên, trong nhóm bệnh sau, cần lưu ý rằng việc rèn luyện thể chất vẫn có thể có tác dụng có lợi đối với các thông số liên quan đến sức khỏe mà các cá nhân nói chung có thể đạt được. Hiệu quả này có thể đạt được trong khi không có bất kỳ sự xấu đi nào của bệnh mãn tính nguyên phát. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích những người mắc bệnh mãn tính (và không nhất thiết là có nguy cơ tử vong) tập luyện thường xuyên từ quan điểm sức khỏe nói chung. Ngoài ra, hầu hết tất cả những người bị bệnh đều có thể tập thể dục để chống lại sự suy giảm chức năng chung mà tình trạng không hoạt động liên quan đến bệnh của họ đã gây ra. Trong một số rất ít trường hợp, phải hết sức thận trọng khi tập luyện (ví dụ như các bệnh truyền nhiễm cấp tính).

Mặc dù có kiến ​​thức hiện tại về tác dụng của việc rèn luyện thể chất đối với bệnh tật, cơ chế chính xác đằng sau điều này vẫn chỉ được mô tả một phần. Để tìm ra các con đường sinh hóa và sinh lý như vậy sẽ rất quan trọng không chỉ để xác định loại và liều lượng tập luyện thể chất nào nên được chỉ định cho từng bệnh nhân, mà còn để xác định các ‘con đường sức khỏe’ tổng quát hơn, mà các cơn co thắt cơ, có thể ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của cá nhân. Đặc biệt là liên quan đến bệnh tật, ảnh hưởng của việc rèn luyện theo con đường như vậy, tự nó, hoặc kết hợp với dược phẩm, sẽ có khả năng đóng một vai trò nào đó trong điều trị bệnh tật và duy trì sức khỏe khi về già. Việc xác định cụ thể các con đường liên quan đến sức khỏe trong gen của chúng ta sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về tính đa hình di truyền và giúp giải thích sự khác biệt giữa các cá nhân trong phản ứng tập luyện và kết quả liên quan đến sức khỏe của chúng ta. Rõ ràng, điều này cũng sẽ mở ra khả năng điều trị về di truyền trong các rối loạn di truyền liên quan đến khả năng thích ứng của mô và cơ quan với việc tập luyện, đồng thời (vô tình) tạo cơ hội cho việc lạm dụng liệu pháp gen liên quan đến doping, một câu hỏi sẽ thách thức lĩnh vực y học thể thao về mặt đạo đức.

Ảnh hưởng của rèn luyện thể chất đối với các bệnh khác nhau.

Các bệnh mà việc rèn luyện thể chất sẽ có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của bệnh và tích cực đối với các biểu hiện bệnh ban đầu:

Bệnh tim thiếu máu cục bộ

Giai đoạn hồi phục của nhồi máu cơ tim cấp tính

Tăng huyết áp

Bệnh tiểu đường loại 2

Béo phì (rõ rệt nhất đối với việc phòng ngừa)

Loãng xương

Mất khối lượng cơ liên quan đến tuổi tác (giảm mỉa mai)

Viêm xương khớp (rất có thể chỉ là phòng ngừa)

Đau lưng

Ung thư (phòng chống ung thư ruột kết và ung thư vú)

Trầm cảm và rối loạn giấc ngủ

Các bệnh truyền nhiễm (phòng chống nhiễm trùng đường hô hấp trên)

Các bệnh mà ở đó mức độ ảnh hưởng trung bình hoặc không trực tiếp có thể được chứng minh dựa trên các biểu hiện bệnh chính, nhưng khi tập thể dục sẽ ảnh hưởng tích cực đến cả các yếu tố nguy cơ liên quan đến sức khỏe và những rối loạn chung trong chức năng cơ thể tổng thể

Các bệnh mạch máu ngoại vi (suy động mạch)

Bệnh tiểu đường loại 1

Hen phế quản

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

Bệnh thận mãn tính

Hầu hết các dạng ung thư

Hầu hết các bệnh gan cấp tính và mãn tính

Viêm khớp dạng thấp

Các cá nhân được cấy ghép nội tạng

Người bị thương tủy sống

Hầu hết các bệnh thần kinh và tâm thần

Các bệnh cần hết sức thận trọng hoặc nơi không được khuyến khích tập thể dục và nơi tập luyện thể chất thường xuyên có thể có tác động xấu hơn đối với các biểu hiện bệnh ban đầu hoặc có thể dẫn đến các biến chứng

Viêm cơ tim hoặc viêm cơ tim

Tình trạng tim cấp tính (ví dụ như đau thắt ngực không ổn định, AMI cấp tính, rối loạn nhịp tim không kiểm soát được hoặc block AV độ ba)

Các bệnh truyền nhiễm cấp tính liên quan đến sốt (ví dụ: nhiễm trùng đường hô hấp trên)

Tăng bạch cầu đơn nhân với biểu hiện lách to

Hẹp động mạch chủ (ảnh hưởng mãn tính)

Tình trạng nặng cấp tính của nhiều bệnh nêu trên (ví dụ: tăng huyết áp nặng, nhiễm toan ceton trong bệnh tiểu đường)

Các đợt sưng khớp cấp tính (ví dụ như viêm khớp dạng thấp) hoặc bệnh cơ nặng (ví dụ: viêm cơ)

Vị thành niên- bài cuối

Bài 5- Các rối loạn nội tâm hóa và sức khỏe tâm thần vị thành niên

Rối loạn nội tâm hóa đề cập đến các hành vi có vấn đề hoặc có hại hướng vào bản thân hơn là vào người khác. Mặc dù việc sử dụng ma túy bất hợp pháp có thể được coi là một hành vi nội tâm hóa, nhưng thuật ngữ ‘rối loạn nội tâm hóa’ chủ yếu được sử dụng để chỉ nỗi buồn, khí sắc bất ổn, thoái lui và trầm cảm. Các chỉ số nghiêm trọng hơn là suy nghĩ về tự tử và những nỗ lực thực sự về việc tự tử. Rối loạn ăn uống, bao gồm chứng biếng ăn và chứng ăn vô độ, là một loại khác của hành vi nội tâm hóa, nhưng loại rối loạn này chưa gặp nhiều ở Việt Nam. Rối loạn ăn uống trùng lặp ở một mức độ nào đó với béo phì, nhưng tôi cũng sẽ không đề cập ở đây vì tôi không thấy sự khác biệt của vấn đề này ở Việt Nam khi xem xét ở tuổi vị thành niên.

Khí sắc bất ổn và rối loạn cảm xúc

Rối loạn khí sắc có thể được định nghĩa là cảm thấy chán nản hoặc có khí sắc dao động. Có một lịch sử lâu dài coi tuổi vị thành niên là khoảng thời gian của tâm trạng và cảm xúc rối loạn, với cả Hall với tư cách là nhà tâm lý học và Freud là nhà phân tâm học đều nhấn mạnh điều này trong những năm đầu của thế kỷ 20- đã đề cập ở bài trước. Những quan điểm này đã dẫn dắt trong một thời gian. Năm 1962, Peter Blos đã phát triển thêm phương pháp phân tâm học trong cuốn sách Về tuổi mới lớn. Ở đây, ông gọi tuổi vị thành niên là một quá trình cá nhân hóa lần thứ hai. Quá trình cá nhân hóa đầu tiên là quá trình chuyển đổi mà một đứa trẻ sơ sinh thực hiện để trở thành một đứa trẻ mới biết đi tự chủ hơn, điều này thường đi kèm với những cơn giận dữ. Blos coi tuổi vị thành niên là một quá trình song song để chuyển sang độc lập, ở giai đoạn sau. Nó cũng tự nhiên đi kèm với sự xung đột và thoái lui. Thật vậy, khái niệm tuổi vị thành niên là một giai đoạn hỗn loạn, nổi loạn vẫn còn phổ biến trong những năm 1960 và 1970, như được lưu ý trong tác phẩm của Erikson về khủng hoảng danh tính vào thời điểm đó. 

Nhưng trong những thập kỷ sau của thế kỷ 20, đã có một số phản ứng chống lại điều này, với một số nhà nghiên cứu cho rằng những khó khăn như vậy ở tuổi vị thành niên không phải là đặc điểm của tất cả thanh thiếu niên, và thường có tính chất khá nhỏ. John Coleman đã đề xuất lý thuyết trọng tâm về tuổi vị thành niên, theo đó các nhiệm vụ hoặc khó khăn phát triển không phải đến cùng một lúc mà được lan truyền qua các năm tuổi vị thành niên. Điều này ngụ ý rằng chúng có thể được quản lý từng cái một, thay vì cùng nhau mang đến một số loại khủng hoảng nào đó.

Nghiên cứu trên Đảo Wight

Michael Rutter và các đồng nghiệp đã cố gắng giải quyết vấn đề về sự hỗn loạn cảm xúc trong một bài báo có tựa đề Rối loạn hỗn loạn vị thành niên: sự thật hay hư cấu ?. Họ đã báo cáo những phát hiện từ một nghiên cứu toàn diện về tất cả trẻ em từ 14 đến 15 tuổi trên Đảo Wight, ngoài khơi bờ biển phía nam nước Anh. Tổng cộng có 2.303 thanh niên trong độ tuổi này. Một mẫu ngẫu nhiên gồm 200 trẻ đã được đánh giá chi tiết và có một cuộc phỏng vấn với bác sĩ tâm thần. Từ đó, trong bảng câu hỏi khảo sát, từ 1/5 đến 1/4 (21% nam, 23% nữ) nói rằng trẻ thường cảm thấy đau khổ hoặc chán nản. Theo các bác sĩ tâm thần, số nhiều hơn (42% nam, 48% nữ) cho biết trẻ có cảm giác đau khổ, mặc dù chưa đến một phần ba trong số này thực sự trông buồn bã trong cuộc phỏng vấn. Khoảng một phần bảy (13%) thực sự được chẩn đoán là mắc một chứng rối loạn tâm thần.

Đây là trường hợp của một chiếc ly đầy một phần bảy, hay sáu phần bảy trống? Ở đây, điều quan trọng là phải xem những số liệu này so sánh như thế nào với độ tuổi trẻ hơn hoặc lớn hơn. May mắn thay, các nhà nghiên cứu có thể so sánh số liệu về rối loạn tâm thần ở tuổi 14-15 với số liệu của những đứa trẻ tương tự ở tuổi lên 10, như đã có một cuộc khảo sát trước đó vài năm. Họ cũng nhận được đánh giá đối với cha mẹ của trẻ 14-15 tuổi như một mẫu người lớn. Các phát hiện dựa trên dữ liệu phỏng vấn cha mẹ cho cả ba lứa tuổi, cho thấy tỷ lệ mắc bất kỳ rối loạn tâm thần nào là khoảng 12% khi 10 tuổi, 13% ở 14-15 tuổi và 10% ở người trưởng thành. Có một đỉnh cao (nhưng khá khiêm tốn!?) ở tuổi vị thành niên, nhưng sự khác biệt là nhỏ và hầu hết thanh thiếu niên không bị xáo trộn nghiêm trọng. Trong báo cáo đã kết luận rằng ‘tình trạng rối loạn ở tuổi vị thành niên là một sự thật, không phải là một điều hư cấu, nhưng tầm quan trọng về mặt tâm thần của nó có lẽ đã được ước tính quá mức trong quá khứ “. Tất nhiên, kết luận này có giới hạn về mặt lịch sử, nghiên cứu đã được khoảng bốn mươi năm vào thời điểm viết bài. Đảo Wight cũng thuận tiện trong việc lấy một mẫu địa phương hoàn chỉnh, nhưng bao gồm các làng và thị trấn nhỏ, đây là một môi trường rất khác với cuộc sống đô thị hiện đại ở Anh.

Tâm trạng bất ổn và cảm giác buồn bã

Để đánh giá tâm trạng một cách trực tiếp hơn, một nghiên cứu ‘kín tiếng’ ở Hoa Kỳ, được thực hiện vào những năm 1990, yêu cầu trẻ em 10-14 tuổi đeo máy nhắn tin điện tử trong một tuần. Để đáp lại các tín hiệu ngẫu nhiên, họ ghi lại cảm xúc của mình. Thanh thiếu niên 12-14 tuổi bị ảnh hưởng cảm xúc tiêu cực hơn đáng kể so với 10-11 tuổi. Các nhà nghiên cứu cũng cho những người trẻ tuổi này một bảng câu hỏi về các sự kiện trong đời, hỏi về những điều quan trọng ảnh hưởng đến họ gần đây. Ảnh hưởng tiêu cực lớn hơn liên quan đến các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống. Những sự kiện cuộc sống này thường xoay quanh gia đình, trường học và bạn bè đồng trang lứa.

Nghiên cứu này cung cấp một nguồn khác về bằng chứng rằng các vấn đề nội tâm như nỗi buồn tăng từ khoảng 10 đến 14 năm. Nhưng sau 14 tuổi thì sao? Bảng 9 đưa ra một số dữ liệu từ cuộc khảo sát Giám sát Hành vi Rủi ro Thanh niên (YRBS) năm 2013 tại Hoa Kỳ, xem xét khoảng 14 đến18 tuổi. Có thể thấy rằng khoảng 30% thanh niên cho biết họ cảm thấy buồn hoặc tuyệt vọng trong 12 tháng qua. Điều này được định nghĩa trong cuộc khảo sát là cảm giác như thế này gần như hàng ngày trong hai hoặc nhiều tuần liên tiếp khiến họ ngừng thực hiện một số hoạt động thông thường. Không có nhiều thay đổi trong khoảng thời gian từ 14 đến 17 tuổi.

Trầm cảm

Buồn bã và trầm cảm có thể được xem như một chuỗi liên tục. Khí sắc trầm cảm là điều mà ai cũng có thể trải qua vào một thời điểm nào đó trong đời, nhưng thường chỉ thoáng qua. Theo nghĩa này, đó là một phản ứng bình thường đối với một sự kiện bất lợi trong cuộc sống hoặc căng thẳng. Hội chứng trầm cảm là khi tình trạng này kéo dài hơn và kèm theo lo lắng, tự ti, cảm giác tội lỗi và có thể các vấn đề khác như cô đơn hoặc rối loạn giấc ngủ. Mặc dù không chính xác, nhưng dữ liệu YRBS về nỗi buồn có thể làm tăng mức độ trầm cảm này. Một rối loạn trầm cảm điển hình được chẩn đoán khi có sự bất hạnh sâu sắc, tuyệt vọng và các triệu chứng khác như cảm giác tội lỗi bất thường, giảm tập trung, rối loạn ăn uống và có ý định tự tử hoặc tự gây hại bản thân.

Một số hiểu biết sâu sắc về các vấn đề ảnh hưởng đến thanh thiếu niên bị trầm cảm đến từ một nghiên cứu ở Phần Lan. Các nhà nghiên cứu đã làm việc với 70 thanh thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi, những người đã được chuyển đến điều trị ngoại trú tâm thần, thường là vì bệnh trầm cảm. Các em cung cấp dữ liệu qua internet, viết một bài luận ngắn về những mối quan tâm và tình hình cuộc sống hiện tại của các em. Phân tích các bài luận này cho thấy bốn chủ đề chính. Đầu tiên là các mối quan hệ. Ở đây, mối quan tâm chính là bạn bè, gia đình và hẹn hò. Ví dụ, một trẻ vị thành niên đã viết, “Tôi muốn phát triển các kỹ năng xã hội của mình”, cho thấy sự thiếu tự tin trong lĩnh vực này. Một số lo ngại về việc bị loại khỏi các nhóm bạn đồng lứa, một số về xung đột với cha mẹ, một số lo lắng về việc bị bạn hẹn hò làm cho thất vọng. Chủ đề thứ hai là hành động hàng ngày. Ở đây, hai mối quan tâm chính là trường học và khả năng hoạt động. Ví dụ, một trẻ đã viết, “rất khó để bắt đầu làm một điều gì đó”. Một số cảm thấy khó khăn khi phải đương đầu với áp lực học đường. Những trẻ khác không thể làm những việc mà trẻ thường yêu thích, chẳng hạn như đến phòng tập thể dục. Chủ đề thứ ba là bản sắc/ sự tự tin. Các vấn đề ở đây là sự tự tôn kém và lo lắng về tương lai. Một trẻ đã viết, “Tôi vô cùng kém tự tin về bản thân”. Họ thường lo lắng về ngoại hình và cân nặng của họ. Các mối quan tâm khác là về những thách thức của sự độc lập của bản thân và cách họ sẽ đối phó trong tương lai. Chủ đề thứ tư là hạnh phúc. Hai mối quan tâm chính ở đây là cách suy nghĩ và sức khỏe tâm thần nói chung. Một trẻ đã viết, “Tôi muốn kiểm soát cảm xúc của mình tốt hơn và thậm chí chấp nhận những giai đoạn tồi tệ hơn”. Đối với một số người, cuộc sống của họ dường như rối tung và họ không thể suy nghĩ rõ ràng về mọi thứ. Những người khác lo lắng về việc đối phó với cảm giác tức giận, buồn bã và thay đổi tâm trạng. Các nhà nghiên cứu này cũng sử dụng nền tảng internet mà dữ liệu được thu thập để cung cấp hỗ trợ thông qua các bài tập và phản hồi hàng tuần về phản ánh và sự tự lực.

Suy nghĩ tự tử và cố gắng tự sát

Một hậu quả rất nghiêm trọng của trầm cảm, thường kết hợp với các yếu tố khác, có thể là suy nghĩ về việc tự sát (ý tưởng tự sát), tự làm hại bản thân, cố gắng tự tử và trong một số trường hợp bi thảm là tự sát thực sự. Như một trong những trẻ vị thành niên trong nghiên cứu Phần Lan (ở trên) đã viết, ‘Tôi thấy những đen tối trong cuộc sống của mình: buồn bã, tức giận (rất nhiều tức giận), tuyệt vọng và đau đớn. Tôi cảm thấy cuộc đời này chỉ là một cuộc chạy đua với tử thần và tôi chỉ đang chờ đợi sự chung tay giúp đỡ… ’.

Trong khi các vụ tự tử hoàn thành rất hiếm khi xảy ra, nhưng số lượng lớn hơn nhiều người trẻ tuổi đôi khi nghĩ đến việc tự tử hoặc họ tự làm hại bản thân theo một cách nào đó. Cuộc khảo sát YRBS 2013 ở Hoa Kỳ cho thấy, với khoảng 17% trẻ cân nhắc nghiêm túc về việc có ý định tự tử trong 12 tháng qua và 8% nói rằng họ đã thực sự cố gắng, những con số này có vẻ cao đáng báo động. 

Các cuộc khảo sát tự báo cáo có những hạn chế và người ta có thể tự hỏi những số liệu này chính xác đến mức nào. Nhưng một nghiên cứu về những người trẻ từ 10–17 tuổi ở 16 bang của Hoa Kỳ cho thấy tự tử là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba, sau vô ý gây thương tích và giết người. Bằng chứng từ các báo cáo pháp lý và y tế cho thấy nguyên nhân chính của các vụ tự tử là do các vấn đề chung về mối quan hệ với bạn bè hoặc cha mẹ (51%); các vấn đề về mối quan hệ thân mật với bạn trai / bạn gái hoặc cha mẹ trong trường hợp mang thai ở tuổi vị thành niên (27%); và các vấn đề ở trường học (26%). Trong gần một nửa số trường hợp (42%), có một số căng thẳng hoặc khủng hoảng trong cuộc sống gần đây hoặc sắp xảy ra.

Khác biệt về giới

Điều đáng chú ý là nữ giới có số điểm trầm cảm cao hơn nam giới khoảng gấp đôi. Sự mất cân bằng giới tính này khá đặc trưng của nhiều rối loạn nội tâm hóa ở tuổi vị thành niên, bao gồm cả rối loạn ăn uống. Nó đối lập với nhiều vấn đề bên ngoài, trong khi đối với việc sử dụng ma túy thì không có nhiều sự khác biệt về giới tính. Những khác biệt này giữa thanh thiếu niên nam và nữ có thể liên quan đến các chiến lược ứng phó khác nhau, hơn là do các nguyên nhân khác nhau gây ra căng thẳng. Ví dụ, nghiên cứu về các vụ tự tử ở Hoa Kỳ, đã được thảo luận trước đó, cho thấy rằng các hoàn cảnh dẫn đến tự tử không khác nhau nhiều theo giới tính. Tuy nhiên, để đối phó với căng thẳng, nam giới có vẻ dễ thực hiện các hành vi mạo hiểm hoặc hung hăng hơn, trong khi nữ giới có vẻ dễ bị trầm cảm và tự làm hại bản thân.

Các yếu tố nguy cơ

Bên cạnh việc là nữ, nhiều yếu tố nguy cơ khác của rối loạn trầm cảm ở tuổi vị thành niên đã được xác định. Nếu có tiền sử gia đình bị trầm cảm, có thể liên quan đến yếu tố di truyền. Tuy nhiên, một số dữ liệu cũng được tìm thấy trong các gia đình nhận nuôi, chỉ ra tầm quan trọng của phong cách nuôi dạy con cái. Sự trừng phạt nghiêm khắc của cha mẹ về thể xác, sự kiểm soát không có tình cảm, sự từ chối và lạm dụng dự báo rất nhiều về chứng trầm cảm ở tuổi vị thành niên.

Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ đã xem xét các yếu tố nguy cơ dẫn đến các nỗ lực tự tử ở học sinh lớp 9 và 11 (khoảng 14–15 và 16–17 tuổi). Trầm cảm là một yếu tố nguy cơ ở cả hai lứa tuổi. Ở lớp 9, các yếu tố nguy cơ khác bao gồm sử dụng ma túy bất hợp pháp và khuynh hướng tình dục đồng giới. Ở lớp 11, các yếu tố nguy cơ bao gồm lạm dụng tình dục, và thuộc chủng tộc hoặc dân tộc ‘khác’ (chủ yếu là người châu Á hoặc người Mỹ bản địa).

Xu hướng tình dục đồng giới có thể là một yếu tố nguy cơ do bắt nạt. Tất nhiên, bị bắt nạt cũng ảnh hưởng đến những học sinh không thuộc cộng đồng đồng tính luyến ái. Thiếu tự tin và trầm cảm được biết là những hậu quả có thể xảy ra của những trải nghiệm trở thành nạn nhân kéo dài. Ví dụ, một nghiên cứu về học sinh Áo từ 14-19 tuổi đã đánh giá chứng trầm cảm và các triệu chứng rối nhiễu, chẳng hạn như đau bụng, có liên quan đến việc bị bắt nạt. 

Các yếu tố bảo vệ, khả năng phục hồi và các biện pháp can thiệp

Những căng thẳng như các vấn đề trong mối quan hệ, khó khăn ở trường học và lo lắng về ngoại hình có thể ảnh hưởng đến nhiều trẻ vị thành niên, nhưng một số rõ ràng đối phó tốt hơn những người khác. Các yếu tố bảo vệ đã được xác định trái ngược với các yếu tố nguy cơ. Chúng bao gồm thành tích học tập, tham gia các hoạt động ngoại khóa và các mối quan hệ tích cực với người khác bên ngoài gia đình.

Khả năng phục hồi có thể được định nghĩa là làm tốt bất chấp nghịch cảnh. Làm tốt có nghĩa là sử dụng các chiến lược ứng phó thành công. Những điều này sẽ tùy thuộc vào tình huống, nhưng thường bao gồm tìm kiếm hỗ trợ xã hội hoặc tư vấn và tham gia vào việc giải quyết vấn đề mang tính xây dựng. Trong nghiên cứu ở Hoa Kỳ (đã đề cập trước đó), một yếu tố bảo vệ đã sử dụng các kỹ năng giải quyết vấn đề có hệ thống trong suy nghĩ về vấn đề của họ. Các chiến lược ít thành công hơn là cố gắng và bỏ qua những khó khăn; tham gia vào các hành vi tiếp tục nội bộ hóa như tự làm hại bản thân hoặc sử dụng ma túy bất hợp pháp; hoặc tham gia vào các hành vi hướng ra bên ngoài như đánh nhau và chấp nhận rủi ro nguy hiểm.

Các biện pháp can thiệp có thể xây dựng dựa trên kiến ​​thức của chúng ta về các yếu tố nguy cơ và bảo vệ. Tư vấn có thể được cung cấp cả trực tiếp hoặc qua internet. Một số chương trình can thiệp khuyến khích các kỹ năng giải quyết vấn đề. Ví dụ, một mô hình sáu bước là: 1. Dừng lại, bình tĩnh và suy nghĩ trước khi hành động. 2. Trình bày rõ vấn đề và cảm nhận của bạn. 3. Đặt mục tiêu tích cực. 4. Nghĩ ra nhiều giải pháp. 5. Suy nghĩ trước hậu quả. 6. Hãy thử phương án tốt nhất. Các chương trình khác có thể tập trung vào giải quyết các vấn đề hoặc stress cụ thể hơn. Ví dụ, cách đối phó với cái chết của cha/ mẹ hoặc ly hôn; hoặc làm thế nào để tránh sử dụng thuốc quá nhiều.

Các chiến lược ứng phó có ý thức, kĩ năng giải quyết vấn đề hay sự tự tôn có thể được tìm hiểu thông qua chương trình tâm lý học, được giảng dạy như là một học phần hay một chứng chỉ ở cuối phổ thông. Tôi cho rằng, nó cực kì hữu ích với trẻ vị thành niên trong hành trình tự khám phá bản thân. Lưu ý, chương trình này tập trung vào tâm lý học nhận thức, không phải các kĩ năng sống đang được mời gọi tràn lan. Tại Mĩ, chứng chỉ AP về tâm lý học cung cấp nội dung này (tôi đã xem nội dung text book của chương trình này). Tôi cũng mới được nghe một trung tâm giáo dục, đến từ Anh, cung cấp một chương trình tâm lý ở cấp độ GCSE và A level, nhưng chưa rõ nội dung cụ thể. Trong bối cảnh mà thế hệ các phụ huynh không được cung cấp thông tin về tâm lý học, thì việc trẻ vị thành niên tiếp cận nội dung này là một cách hay.

Ngoài ra, còn một vấn đề nữa được tác giả Peter K. Smith đề cập là vấn đề giới tính, quan hệ tình dục và mang thai sớm ở tuổi vị thành niên. Tuy nhiên, vấn đề quan hệ tình dục và mang thai sớm ở Việt Nam có sự khác biệt lớn so với Mĩ và Anh, nên tôi không dẫn ở đây. Còn vấn đề giới tính với các khía cạnh: bản dạng giới, thể hiện giới, khuynh hướng tình dục và chuyển giới, sẽ đề cập đến trong một nội dung khác, về vấn đề giới tính nói chung.

Tâm bệnh học- góc nhìn của nhà kiến tạo xã hội

Ở Việt Nam, tâm lý lâm sàng là một ngành nghề chưa có định vị cụ thể. Tuy nhiên, trong một số mô hình can thiệp được chuyển giao từ nước ngoài, ví dụ như mô hình Ngôn ngữ trị liệu Nhi, mà Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đang truyền dạy, tâm bệnh lý được nhắc đến.

Ở Việt Nam, chỉ có chuyên ngành Tâm thần học y học được truyền dạy nhiều năm trong hệ thống y tế và có vị trí việc làm rõ rệt. Thật tiếc, nó gắn nhiều với sự kì thị. Nên trong một số trường hợp, “tâm bệnh” là tên được lựa chọn trong một số bệnh viện, mà tôi chắc chắn rằng, nội dung chính xác của khái niệm trên là Tâm thần học. Có điều, những mô hình nhập ngoại như trên không có được những người chủ chốt mà có kiết thức lý thuyết vững chắc. Đa số họ là những nhà ứng dụng, những nhà thực hành, có kinh nghiệm lâm sàng tốt, nhưng khó mà giải đáp các vấn đề lý thuyết một cách khúc chiết.

Chính vì vậy, phân môn Tâm bệnh trong chương trình 10 tháng mà tôi học của Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch không thực sự phù hợp cho những nhà can thiệp Ngôn ngữ trị liệu Nhi. Nội dung này cần được xác định kĩ hơn, vì thực sự chương trình chỉ làm rõ được các can thiệp sớm, chứ không phải là tổng thể can thiệp cho trẻ đạt đến độ tuổi vị thành niên sinh học. Tâm bệnh học cần cung cấp kiến thức cho thời kì này là chính, và cho đối tượng là trẻ có rối loạn phát triển. Ngoài ra, nội dung đó không chính xác về mặt ‘tâm bệnh học’. Nó phù hợp với tên ‘tâm lý phát triển’ hơn, và quá thừa với những phần tâm lý phát triển ở tuổi vị thành niên và trưởng thành.

Vì vậy, bài dịch sau đây của ba tác giả: JAMES E. MADDUX George Mason University – Fairfax, Virginia; JENNIFER T. GOSSELIN Sacred Heart University -Fairfield, Connecticut; BARBARA A. WINSTEAD Old Dominion University – Norfolk, Virginia (2012) với việc bàn luận về “tâm bệnh học là gì?” có thể sẽ làm sáng tỏ thêm cho câu hỏi “cần học phần nào của tâm bệnh học để trở thành chuyên viên Ngôn ngữ trị liệu Nhi”.

Bài gốc có nhiều phần tương tự bài “Các rối loạn hành vi” trong tài liệu “Sức khỏe tâm thần”, sách dành cho sinh viên y khoa năm 3, năm học 2020-2021, nên tôi bỏ qua. Tôi cũng không đưa vào đây quan điểm phê phán, rất gay gắt, về việc các nhà chuyên môn xây dựng hệ thống DSM IV và thậm chí, DSM 5, bị ảnh hưởng bởi lợi ích vật chất từ các hãng dược, một vấn đề đang nhức nhối trong nền y tế Việt Nam. Không vì thế mà quan điểm của ba tác giả nêu trên bị mất đi tính giá trị, và không mang lại những hiểu biết, làm nền tảng cho kiến thức y khoa, cho việc phối hợp giữa nhiều ngành trong can thiệp đa ngành. 

Trích dịch:

Đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tâm bệnh học là một nhiệm vụ khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả thi. Các định nghĩa hoặc quan niệm về tâm bệnh học và các thuật ngữ liên quan như rối loạn tâm thần đã là chủ đề tranh luận sôi nổi trong suốt lịch sử tâm lý học và tâm thần học, và cuộc tranh luận vẫn chưa kết thúc (Gorenstein, 1984; Horwitz, 2002; Widiger, 1997). Mặc dù có nhiều biến thể, cuộc tranh luận này tập trung vào một câu hỏi quan trọng duy nhất: Liệu tâm bệnh học và các thuật ngữ liên quan như rối loạn tâm thần và bệnh tâm thần có thể được định nghĩa một cách khách quan và theo tiêu chí khoa học, hay chúng là các cấu trúc xã hội (Gergen, 1985), được xác định phần lớn hay toàn bộ bởi các giá trị văn hóa và xã hội? Mục tiêu của bài này là giải quyết vấn đề đó. Giải quyết vấn đề là rất quan trọng vì quan điểm của người đọc về mọi thứ khác trong tâm bệnh học sẽ bị ảnh hưởng bởi quan điểm của họ về điều này.

Bài này đề cập đến các quan niệm về tâm bệnh học. Một quan niệm về tâm bệnh học không phải là một lý thuyết về tâm bệnh học (Wakefield, 1992a). Một quan niệm về tâm bệnh học cố gắng định nghĩa thuật ngữ — để phân định những trải nghiệm nào của con người được coi là tâm bệnh lý và những trải nghiệm nào không. Quan niệm về tâm bệnh học không cố gắng giải thích các hiện tượng tâm lý được coi là bệnh lý, mà thay vào đó cho chúng ta biết những hiện tượng tâm lý nào được coi là bệnh lý và do đó cần được giải thích. Tuy nhiên, một lý thuyết về tâm bệnh học là một nỗ lực để giải thích những hiện tượng và trải nghiệm tâm lý đã được quan niệm xác định là bệnh lý. 

Việc hiểu các quan niệm khác nhau về tâm bệnh học là rất quan trọng vì một số lý do. Như nhà triết học y khoa Lawrie Reznek (1987) đã nói, “Các khái niệm mang lại hậu quả – việc phân loại mọi thứ theo cách này chứ không phải theo cách khác có ý nghĩa quan trọng đối với cách chúng ta hành xử với những thứ đó” . Khi nói về tầm quan trọng của quan niệm về bệnh tật, Reznek đã viết:

Việc phân loại một tình trạng như một căn bệnh mang lại nhiều hậu quả quan trọng. Chúng tôi thông báo cho các nhà khoa học y khoa rằng họ nên cố gắng tìm ra cách chữa trị tình trạng này. Chúng tôi thông báo cho các nhà hảo tâm rằng họ nên hỗ trợ nghiên cứu như vậy. Chúng tôi hướng sự chăm sóc y tế vào tình trạng bệnh, làm cho nó phù hợp để điều trị tình trạng bệnh bằng các biện pháp y học như điều trị bằng thuốc, phẫu thuật, v.v. Chúng tôi thông báo cho các tòa án của mình rằng việc bắt những người chịu trách nhiệm về các biểu hiện của tình trạng này là không phù hợp. Chúng tôi thiết lập các dịch vụ phát hiện cảnh báo sớm nhằm phát hiện tình trạng bệnh ở giai đoạn đầu khi nó vẫn có thể điều trị thành công. Chúng tôi gửi thông báo cho các công ty bảo hiểm y tế và các dịch vụ y tế quốc gia rằng họ có trách nhiệm thanh toán cho việc điều trị tình trạng đó. Việc phân loại một tình trạng như một căn bệnh không phải là vấn đề nhàn rỗi. 

Nếu chúng ta thay thế tâm bệnh lý hoặc rối loạn tâm thần cho từ bệnh trong đoạn này, thông điệp của nó vẫn đúng. Cách chúng tôi quan niệm về tâm bệnh học và các thuật ngữ liên quan có ý nghĩa rộng rãi đối với các cá nhân, chuyên gia y tế và sức khỏe tâm thần, các cơ quan và chương trình của chính phủ và xã hội nói chung.

Phân loại hay các chiều hướng

Khó khăn vốn có trong quan niệm của DSM về tâm bệnh lý và những nỗ lực khác để phân biệt giữa bình thường và bất thường hoặc thích nghi và không thích nghi là, DSM là các mô hình phân loại, cố gắng mô tả các hướng dẫn để phân biệt rõ ràng giữa các cá nhân bình thường hay bất thường và để xác định bất thường cụ thể nào hoặc “Rối loạn” ở một người phải loại trừ các rối loạn khác. Một mô hình thay thế, được hỗ trợ nhiều bởi nghiên cứu, là mô hình chiều hướng. Trong mô hình chiều hướng, tính bình thường và bất thường, cũng như hoạt động tâm lý hiệu quả và không hiệu quả, nằm dọc theo một chuỗi liên tục; cái gọi là rối loạn tâm lý chỉ đơn giản là những biến thể cực đoan của những hiện tượng tâm lý bình thường và những vấn đề bình thường trong sinh hoạt (Keyes & Lopez, 2002). Mô hình chiều hướng không liên quan đến việc phân loại người hoặc rối loạn, mà là xác định và đo lường sự khác biệt của cá nhân trong các hiện tượng tâm lý như cảm xúc, khí sắc, trí thông minh và phong cách cá nhân (Lubinski, 2000). Sự khác biệt lớn giữa các cá nhân về các khía cạnh được mong đợi, chẳng hạn như sự khác biệt mà chúng tôi tìm thấy trong các bài kiểm tra tiêu chuẩn về trí thông minh. Như với trí thông minh, sự phân chia giữa bình thường và bất thường có thể được phân chia để thuận tiện hoặc hiệu quả nhưng không được coi là dấu hiệu của sự không liên tục thực sự giữa các “loại” hiện tượng hoặc “loại” người. Ngoài ra, phương sai thống kê không nhất thiết được coi là bệnh lý, mặc dù các biến thể cực đoan ở một trong hai đầu của một chiều (ví dụ: hướng nội / hướng ngoại, loạn thần kinh, thông minh) có thể hại nếu chúng dẫn đến việc hoạt động không linh hoạt.

Khái niệm này không phải là mới. Ngay từ năm 1860, Henry Maudsley đã nhận xét rằng “không có ranh giới giữa sự tỉnh táo và sự điên rồ; và cảm giác hơi cường điệu ám chỉ một người đàn ông “đặc biệt” trên thế giới chỉ khác về mức độ so với cảm giác đưa hàng trăm người vào trại tị nạn “(1860, trang 14, trích trong Millon, 2010, trang 33).

Bằng chứng thực nghiệm về tính hợp lệ của phương pháp tiếp cận kiểu chiều hướng để điều chỉnh tâm lý là mạnh nhất trong lĩnh vực nhân cách và rối loạn nhân cách (Maddux & Mudell, 1999; Widiger & Trull, 2007). Các nghiên cứu phân tích nhân tố về các vấn đề nhân cách trong dân số nói chung và dân số lâm sàng mắc chứng “rối loạn nhân cách” cho thấy sự tương đồng rõ rệt giữa hai nhóm. Ngoài ra, các cấu trúc yếu tố này không phù hợp với hệ thống phân loại các rối loạn nhân cách thành các loại của DSM và hỗ trợ một cái nhìn chiều hướng hơn là một cái nhìn phân loại. Ví dụ, bằng chứng gần đây nhất cho thấy rõ ràng rằng nhân cách bệnh lý (hoặc nhân cách chống đối xã hội) và các rối loạn hướng ngoại khác ở tuổi trưởng thành hiển thị cấu trúc chiều hướng, không phải cấu trúc phân loại (Edens, Marcus, Lilienfeld, & Poythress, 2006; Krueger, Markon, Patrick, & Iacono, 2005; Larsson, Andershed, & Lichtenstein, 2006). Điều này cũng đúng với chứng ái kỷ và rối loạn nhân cách ái kỷ (Brown, Budzek, & Tamborski, 2009). Ngoài ra, Mô hình phân tầng cảm xúc gần đây về rối loạn nhân cách ranh giới, mặc dù không được trình bày rõ ràng dưới dạng mô hình chiều hướng, về mọi mặt đều phù hợp với mô hình chiều hướng (Selby & Joiner, 2009). Quan điểm về các rối loạn nhân cách cũng được hỗ trợ bởi nghiên cứu đa văn hóa (Alarcon, Foulks, & Vakkur, 1998).

Nghiên cứu về các vấn đề khác cũng hỗ trợ quan điểm chiều hướng. Các nghiên cứu về các loại trải nghiệm cảm xúc bình thường (ví dụ, Carver, 2001; Oatley & Jenkins, 1992; Oatley, Keltner, & Jenkins, 2006) chỉ ra rằng rối loạn cảm xúc “lâm sàng” không phải là các lớp trải nghiệm cảm xúc rời rạc không liên tục từ cảm xúc hàng ngày bị đảo lộn và các vấn đề. Nghiên cứu về các mô hình gắn bó của người lớn trong các mối quan hệ cho thấy rằng các chiều hướng là mô tả chính xác hơn về các mô hình đó, hơn là các phạm trù (Fossati, 2003; Fraley & Waller, 1998; Hankin, Kassel, Abela, 2005). Nghiên cứu về các hành vi tự hại bản thân đã chỉ ra rằng chúng cực kỳ phổ biến và bản thân chúng không phải là dấu hiệu bất thường hoặc triệu chứng của rối loạn (Baumeister & Scher, 1988). Nghiên cứu về các vấn đề đọc của trẻ em chỉ ra rằng chứng khó đọc không phải là một tình trạng ‘tất cả hoặc không’ mà trẻ em mắc phải hoặc không mắc phải, mà xảy ra ở các mức độ, và không có sự phân chia hiển nhiên giữa trẻ mắc chứng khó đọc và không mắc chứng khó đọc (Shaywitz, Escobar, Shaywitz, Fletcher, & Makuch, 1992; Shaywitz, Morris, & Shaywitz, 2008; Snowling, 2006). Nghiên cứu về chứng tăng động giảm chú ý (Barkley, 2005), rối loạn stress sau sang chấn (Anthony, Lonigan, & Hecht, 1999; Rosen & Lilienfeld, 2008; Ruscio, Ruscio, & Keane, 2002), và rối loạn hoảng sợ (Eaton, Kessler, Wittchen, & Magee, 1994) chứng minh cùng một ý này. Nghiên cứu về trầm cảm và tâm thần phân liệt chỉ ra rằng những “rối loạn” này được xem tốt nhất là các cụm chiều hướng liên quan lỏng lẻo về các chiều khác biệt của từng cá nhân, chứ không phải là các hội chứng giống như bệnh tật (Claridge, 1995; Costello, 1993a, 1993b; Eisenberg và cộng sự, 2009; Flett, Vredenburg, & Krames, 1997). Ví dụ, một nghiên cứu gần đây về các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên đã tìm thấy cấu trúc chiều hướng cho tất cả các triệu chứng DSM – IV của rối loạn trầm cảm điển hình (Hankin, Fraley, Lahey, & Waldman, 2005).

Người đưa ra thuật ngữ “tâm thần phân liệt”, Eugene Bleuler, xem cái gọi là tình trạng bệnh lý là liên tục với cái gọi là tình trạng bình thường và ghi nhận sự xuất hiện của các triệu chứng “tâm thần phân liệt” ở những người bình thường (Gilman, 1988). Trên thực tế, Bleuler gọi triệu chứng chính của “tâm thần phân liệt” (rối loạn tư duy) đơn giản là “ungewonlich,” trong tiếng Đức có nghĩa là “bất thường”, không phải “kỳ quái” như nó đã được dịch trong phiên bản tiếng Anh đầu tiên của cuốn sách chuyên khảo cổ điển của Bleuler ( Gilman, 1988). Về cơ bản, việc tạo ra bệnh tâm thần phân liệt như một phân loại là “một tạo tác của các hệ tư tưởng tiềm ẩn trong các nhà khoa học y tế châu Âu và Mỹ thế kỷ 19” (Gilman, 1988). Thật vậy, nghiên cứu chỉ ra rằng ảo giác và hoang tưởng do những người được chẩn đoán mắc chứng rối loạn phân liệt thể hiện liên tục với những trải nghiệm và hành vi trong cộng đồng dân cư nói chung (Johns & van Os, 2001; van Os , Verdoux, Maurice-Tison, Gay, Liarud, Salamon, & Bourgeois, 1999). Nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rằng các thước đo chiều hướng của rối loạn tâm thần là những yếu tố dự đoán tốt hơn về hành vi rối loạn chức năng, thích ứng xã hội và chức năng nghề nghiệp hơn là chẩn đoán phân loại (Rosenman, Korten, Medway, & Evans, 2003). Cuối cùng, các nhà nghiên cứu sinh học tiếp tục khám phá ra sự liên tục giữa cái gọi là tình trạng tâm lý bình thường và bất thường (hoặc bệnh lý) (Claridge, 1995; Livesley, Jang, & Vernon, 1998; Nettle, 2001).

Tất nhiên, các phương pháp tiếp cận theo chiều hướng không phải là không có hạn chế của chúng, bao gồm những khó khăn lớn hơn mà chúng gây ra trong giao tiếp giữa các chuyên gia, so với các hạng mục và sự phức tạp hơn của chúng đối với việc sử dụng trên lâm sàng (Simonsen, 2010). Ngoài ra, các nhà nghiên cứu và bác sĩ lâm sàng chưa đạt được sự đồng thuận về việc sử dụng chiều hướng nào (Simonsen, 2010). Cuối cùng, các phương pháp tiếp cận theo chiều hướng không giải quyết được vấn đề chủ quan, đã được đề cập trước đây, bởi vì quyết định liên quan đến việc suy nghĩ, cảm xúc hoặc hành vi của một người phải được coi là bất thường bao nhiêu, vẫn là quyết định chủ quan. Tuy nhiên, các phương pháp tiếp cận theo chiều hướng đang dần được chấp nhận rộng rãi và chắc chắn sẽ ngày càng được tích hợp nhiều hơn vào các lược đồ phân loại truyền thống. (Một cuộc thảo luận sâu rộng về ưu và nhược điểm của các phương pháp tiếp cận phân loại nằm ngoài phạm vi của chương này. Các thảo luận chi tiết và thông tin có thể được tìm thấy trong các nguồn gần đây khác [ví dụ: Grove & Vrieze, 2010; Simonsen, 2010].)

Chủ nghĩa kiến tạo xã hội và quan niệm về tâm bệnh lý

Nếu chúng ta không thể đưa ra một quan niệm khách quan và khoa học về tâm bệnh học và rối loạn tâm thần, thì chúng ta còn cách nào để hiểu những thuật ngữ này không? Vậy thì chúng ta quan niệm như thế nào về tâm bệnh học? Giải pháp cho vấn đề này không phải là phát triển một định nghĩa khác về tâm bệnh học, mà là chấp nhận thực tế rằng vấn đề không có giải pháp – ít nhất không phải là một giải pháp có thể đạt được bằng các phương tiện khoa học. Chúng ta phải từ bỏ mục tiêu phát triển một định nghĩa khoa học và chấp nhận ý tưởng rằng tâm bệnh học và các thuật ngữ liên quan không phải là loại thuật ngữ có thể được định nghĩa thông qua các quá trình mà chúng ta thường coi là khoa học. Chúng ta phải ngừng đấu tranh để phát triển một quan niệm khoa học về tâm bệnh lý và thay vào đó cố gắng hiểu bản thân cuộc đấu tranh — tại sao nó xảy ra và ý nghĩa của nó. Chúng ta cần hiểu rõ hơn về cách mọi người cố gắng hình dung và xác định bệnh lý tâm thần, những gì họ đang cố gắng đạt được khi họ làm điều này, làm thế nào và tại sao những quan niệm này là chủ đề của cuộc tranh luận liên tục và được sửa đổi liên tục.

Chúng tôi bắt đầu bằng cách chấp nhận ý tưởng rằng tâm bệnh học và các khái niệm liên quan là những ý tưởng trừu tượng không được xây dựng về mặt khoa học mà được xây dựng về mặt xã hội. Chủ nghĩa kiến ​​tạo xã hội liên quan đến việc “làm sáng tỏ quá trình mà mọi người đến để mô tả, giải thích, hoặc giải thích về thế giới mà họ đang sống” (Gergen, 1985). Chủ nghĩa kiến ​​tạo xã hội liên quan đến việc “xem xét các cách thức mà mọi người hiểu thế giới, các quá trình xã hội và chính trị ảnh hưởng đến cách mọi người định nghĩa từ ngữ và giải thích các sự kiện, cũng như hàm ý của những định nghĩa và giải thích này – ai được lợi và ai bị mất, do cách chúng ta mô tả và hiểu thế giới ”(Muehlenhard & Kimes, 1999). Theo quan điểm này, các từ và khái niệm như tâm bệnh lý và rối loạn tâm thần “là sản phẩm của những hiểu biết lịch sử và văn hóa cụ thể hơn là… những phạm trù kinh nghiệm phổ biến và bất biến của con người” (Bohan, 1996). Các định nghĩa phổ quát hoặc “đúng” về khái niệm không tồn tại bởi vì những định nghĩa này phụ thuộc chủ yếu vào việc ai sẽ thực hiện việc xác định. Những người định nghĩa thường là những người có quyền lực, và vì vậy những định nghĩa này phản ánh và thúc đẩy lợi ích và giá trị của họ (Muehlenhard & Kimes, 1999). Do đó, “khi những người kém quyền lực cố gắng thách thức các mối quan hệ quyền lực hiện có và thúc đẩy thay đổi xã hội, chiến trường ban đầu thường là những từ được sử dụng để thảo luận vấn đề” (Muehlenhard & Kimes, 1999). Bởi vì lợi ích của con người và thể chế dựa trên các giá trị của họ, các cuộc tranh luận về định nghĩa các khái niệm thường trở thành xung đột giữa những niềm tin sâu sắc và ngầm hiểu về cách thế giới hoạt động hoặc nên hoạt động và về sự khác biệt giữa đúng và sai. Những xung đột như vậy thể hiện rõ trong các cuộc tranh luận về định nghĩa của các thuật ngữ như bạo lực gia đình (Muehlenhard & Kimes, 1999), lạm dụng tình dục trẻ em (Holmes & Slapp, 1998; Rind, Tromovich, & Bauserman, 1998), và các thuật ngữ khác.

Quan điểm của nhà kiến ​​tạo xã hội có thể được đối lập với quan điểm của chủ nghĩa bản chất. Thuyết khái quát giả định rằng có các phạm trù tự nhiên và tất cả các thành viên của một phạm trù nhất định đều có chung những đặc điểm quan trọng (Rosenblum & Travis, 1996). Ví dụ, quan điểm chủ nghĩa bản chất xem các phạm trù chủng tộc, khuynh hướng tình dục và tầng lớp xã hội của chúng ta là các phạm trù khách quan độc lập với các quá trình xã hội hoặc văn hóa. Nó xem những danh mục này là đại diện cho “những điểm tương đồng có thể kiểm chứng theo kinh nghiệm và sự khác biệt giữa mọi người” (Rosenblum & Travis, 1996) và như “mô tả [theo] cấu trúc vốn có của thế giới trong chính nó” (Zachar & Kendler, 2010). Tuy nhiên, theo quan điểm của các nhà kiến ​​tạo xã hội, “thực tế không thể tách rời khỏi cách một nền văn hóa hiểu về nó” (Rosenblum & Travis, 1996). Trong chủ nghĩa kiến ​​tạo xã hội, những phạm trù như vậy không đại diện cho con người là gì, mà là cách mọi người nghĩ về và cố gắng tạo ra sự khác biệt giữa mọi người. Các quá trình xã hội cũng xác định sự khác biệt giữa mọi người quan trọng hơn những khác biệt khác (Rosenblum & Travis, 1996).

Do đó, theo quan điểm của chủ nghĩa bản chất, bệnh lý nhân cách và rối loạn tâm thần là những thực thể tự nhiên mà bản chất thực sự của nó có thể được khám phá và mô tả. Tuy nhiên, từ góc độ kiến ​​tạo xã hội, chúng chỉ là những ý tưởng trừu tượng được con người xác định và do đó phản ánh các giá trị của họ – văn hóa, nghề nghiệp và cá nhân. Ý nghĩa của những khái niệm này và các khái niệm khác không được tiết lộ bởi các phương pháp khoa học mà được thương lượng giữa những người và các tổ chức của xã hội, những người quan tâm đến định nghĩa của chúng. Trên thực tế, chúng ta thường đề cập đến các thuật ngữ tâm lý như là những cấu trúc vì lý do này — rằng ý nghĩa của chúng được xây dựng và thương lượng thay vì được khám phá hoặc tiết lộ. Cách thức mà các quan niệm về cấu trúc tâm lý cơ bản như cái tôi (Baumeister, 1987) và lòng tự trọng (Hewitt, 2002) đã thay đổi theo thời gian và những cách khác nhau mà chúng được quan niệm bởi các nền văn hóa khác nhau (Cross & Markus, 1999; Cushman , 1995; Hewitt, 2002), đã cung cấp một ví dụ về quá trình này. Vì vậy, “tất cả các loại rối loạn, ngay cả các loại rối loạn thể chất được khám phá một cách khoa học một cách thuyết phục, đều là sản phẩm của con người xây dựng các hệ thống có ý nghĩa để hiểu thế giới của họ” (Raskin & Lewandowski, 2000). Ngoài ra, bởi vì “ý nghĩa của việc trở thành một con người được xác định bởi những cách nói chuyện văn hóa và khái niệm hóa tính cách con người… bản sắc và sự rối loạn được xây dựng về mặt xã hội, và có nhiều cấu trúc rối loạn như ở các nền văn hóa” (Neimeyer & Raskin, 2000; ). Cuối cùng, “nếu mọi người không thể đạt được sự thật khách quan về rối loạn thực sự là gì, thì các cấu trúc khả thi của rối loạn phải cạnh tranh với nhau trên cơ sở sử dụng và ý nghĩa của chúng trong các tình huống lâm sàng cụ thể” (Raskin & Lewandowski, 2000).

Tóm tắt

Từ quan điểm của nhà kiến ​​tạo xã hội, các lực lượng văn hóa xã hội, chính trị, nghề nghiệp và kinh tế ảnh hưởng đến các quan niệm chuyên nghiệp và thế tục về tâm bệnh học. Quan niệm của chúng tôi về sự bình thường và bất thường tâm lý không phải là sự thật về con người mà là những ý tưởng trừu tượng được xây dựng thông qua sự hợp tác ngầm và rõ ràng của các nhà lý thuyết, nhà nghiên cứu, chuyên gia, khách hàng của họ và nền văn hóa mà tất cả đều được lồng ghép và thể hiện quan điểm chung về thế giới và bản chất con người. Vì lý do này, các rối loạn tâm thần và nhiều loại chẩn đoán của DSM không được “phát hiện” giống như cách một nhà khảo cổ học phát hiện ra một đồ tạo tác bị chôn vùi hoặc một nhà nghiên cứu y học phát hiện ra một loại virus. Thay vào đó, chúng được can thiệp (Raskin & Lewandowski, 2000). Tuy nhiên, khi nói rằng rối loạn tâm thần được phát minh ra, chúng tôi không coi rằng chúng là “huyền thoại” (Szasz, 1974) hay nỗi đau khổ của những người được coi là rối loạn tâm thần là không có thật. Thay vào đó, chúng tôi muốn nói rằng những rối loạn này không tồn tại và có các đặc tính, giống như kiểu đồ vật tạo tác và vi rút tồn tại và có. Do đó, quan niệm về tâm thần học “không chỉ đơn giản mô tả và phân loại các đặc điểm của các nhóm cá nhân, mà… tích cực xây dựng một phiên bản của cả bình thường và bất thường… sau đó được áp dụng cho những cá nhân cuối cùng được phân loại là bình thường hoặc bất thường” (Parker, Georgaca, Harper, McLaughlin, & StowellSmith, 1995).

Các quan niệm về tâm thần học và các loại bệnh lý tâm thần khác nhau không phải là bản đồ của các sự thật tâm lý về con người. Thay vào đó, chúng là những tạo tác xã hội phục vụ cùng các mục tiêu văn hóa xã hội giống như quan niệm của chúng ta về chủng tộc, giới tính, tầng lớp xã hội và xu hướng tình dục – những tác phẩm duy trì và mở rộng quyền lực của một số cá nhân và thể chế và duy trì trật tự xã hội, như được định nghĩa bởi những người có quyền lực (Beall, 1993; Parker và cộng sự, 1995; Rosenblum & Travis, 1996). Cũng như các cấu trúc xã hội khác, các khái niệm về tính bình thường và bất thường tâm lý của chúng ta cuối cùng gắn liền với các giá trị xã hội — cụ thể là các giá trị của những cá nhân, nhóm và tổ chức quyền lực nhất của xã hội — và các quy tắc ngữ cảnh cho hành vi bắt nguồn từ những giá trị này (Kirmeyer, 2005; Parker và cộng sự, 1995; Rosenblum & Travis, 1996). Như McNamee và Gergen (1992) đã phát biểu: “Nghề nghiệp sức khỏe tâm thần không trung lập về mặt chính trị, đạo đức hoặc giá trị. Các hoạt động của họ thường hoạt động để duy trì các giá trị nhất định, các thỏa thuận chính trị và các thứ bậc đặc quyền”. Do đó, cuộc tranh luận về định nghĩa của tâm thần học, cuộc đấu tranh xem ai là người có thể định nghĩa nó và các sửa đổi liên tục của DSM không phải là khía cạnh của việc tìm kiếm “chân lý”. Thay vào đó, chúng là những cuộc tranh luận về định nghĩa của những điều trừu tượng được xây dựng về mặt xã hội và những cuộc đấu tranh giành quyền lực cá nhân, chính trị và kinh tế bắt nguồn từ quyền phủ nhận những điều trừu tượng này và do đó để xác định cái gì và ai mà xã hội coi là bình thường và bất bình thường.

Cuộc tranh luận về quan niệm hoặc định nghĩa của tâm bệnh học và các thuật ngữ liên quan đã diễn ra trong nhiều thập kỷ, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ, và sẽ tiếp tục, cũng như chúng ta sẽ luôn có những cuộc tranh luận về các định nghĩa của chân lý, cái đẹp, công bằng và nghệ thuật. Quan điểm của chúng tôi là tâm bệnh học và rối loạn tâm thần không phải là những loại thuật ngữ mà ý nghĩa “thực sự” chỉ được khám phá hoặc định nghĩa một cách khách quan bằng cách sử dụng các phương pháp khoa học. Chúng là những cấu trúc xã hội – những ý tưởng trừu tượng mà ý nghĩa của nó được thương lượng giữa những người và thể chế của một nền văn hóa và phản ánh các giá trị và cấu trúc quyền lực của nền văn hóa đó tại một thời điểm nhất định. Vì vậy, quan niệm và định nghĩa về tâm thần học luôn luôn được tranh luận và thay đổi liên tục. Nó không phải là một thứ tĩnh lặng và cụ thể mà bản chất thực sự của nó có thể được khám phá và mô tả một lần và mãi mãi.

Tuy nhiên, khi nói rằng các quan niệm về tâm lý nhân cách được xây dựng về mặt xã hội chứ không phải xuất phát từ khoa học, chúng tôi không đề xuất rằng sự đau đớn và đau khổ về tâm lý của con người là không có thật hoặc không thể nghiên cứu các mô hình suy nghĩ, cảm giác và hành vi, mà xã hội quyết định gắn nhãn bệnh lý nhân cách, một cách khách quan và khoa học. Thay vào đó, chúng tôi muốn nói rằng đã đến lúc phải thừa nhận rằng khoa học không thể xác định quan niệm “riêng biệt” hay “đúng đắn” về bệnh lý tâm thần và rối loạn tâm thần hơn là nó có thể xác định quan niệm “riêng biệt” và “đúng đắn” về các cấu trúc xã hội khác, chẳng hạn như cái đẹp, công bằng, chủng tộc và tầng lớp xã hội. Tuy nhiên, chúng ta có thể sử dụng khoa học để nghiên cứu các hiện tượng mà nền văn hóa của chúng ta gọi là tâm bệnh lý. Chúng ta có thể sử dụng các phương pháp khoa học để hiểu quan niệm của một nền văn hóa về sức khỏe và rối loạn tâm thần hoặc tâm lý, cách quan niệm này đã phát triển và ảnh hưởng của nó đến cá nhân và xã hội như thế nào. Chúng ta cũng có thể sử dụng các phương pháp khoa học để hiểu nguồn gốc của các mô hình suy nghĩ, cảm giác và hành vi mà một nền văn hóa coi là bệnh tâm thần và để phát triển và thử nghiệm các cách sửa đổi các mô hình đó.

Tâm lý học và tâm thần học sẽ không bị suy giảm khi thừa nhận rằng các khái niệm cơ bản của chúng là về mặt xã hội và không được xây dựng về mặt khoa học — không hơn y học bị yếu thế khi thừa nhận rằng các khái niệm về sức khỏe và bệnh tật được xây dựng về mặt xã hội (Reznek, 1987), cũng như kinh tế học, bằng cách thừa nhận rằng quan niệm về nghèo đói và giàu có được xây dựng trên phương diện xã hội. Tương tự như vậy, tranh cãi gần đây trong thiên văn học về cách xác định thuật ngữ hành tinh (Zachar & Kendler, 2010) không làm cho thiên văn học trở nên kém khoa học hơn. Khoa học không thể cung cấp cho chúng ta những định nghĩa khoa học thuần túy về các khái niệm này. Đó là những cấu trúc được thương lượng và hoàn thiện, không phải là những chân lý.

Như Lilienfeld và Marino (1995) đã phát biểu: Việc loại bỏ dấu ấn của khoa học… chỉ đơn giản là sẽ làm cho các phán quyết giá trị nằm trong các quyết định này rõ ràng hơn và cởi mở hơn với những lời chỉ trích… các cuộc tranh cãi nảy lửa gần như chắc chắn sẽ nảy sinh liên quan đến điều kiện nào đáng được các chuyên gia sức khỏe tâm thần chú ý. Tuy nhiên, những tranh chấp như vậy ít nhất sẽ được giải quyết trên cơ sở hợp pháp của các giá trị và yêu cầu xã hội, thay vì dựa trên các tiêu chí không rõ ràng về tình trạng khoa học đáng ngờ.

Bị tử vong

Trong chương trình năm 3 cho sinh viên Y khoa, tôi có thiết kế một phần “kĩ năng giao tiếp thày thuốc- bệnh nhân trong môi trường bệnh viện”, như là một phần thực hành. Thiết kế này dựa theo chương trình “tiền lâm sàng” đã được Đại học Y Hà nội xây dựng. Tôi chỉ học theo. Tuy nhiên, người soạn thảo phần này, theo tôi, viết khá tệ, vì thiếu các nguyên lý cơ bản về giao tiếp. Giao tiếp, trước hết là một chức năng tâm lý xã hội của con người. Vì thế, trước khi nói xem một giao tiếp đặc thù trong một môi trường đặc biệt, thì các nguyên lý giao tiếp cơ bản phải được xem xét.

Một vấn đề nữa, một mẫu giao tiếp cơ bản được dặt ra là “thông báo tin xấu”. Chủ đề này khá khó khăn với các bạn trẻ, phần lớn ở độ tuổi 20. Sau 3 năm xây dựng chủ đề này, tôi nhận thấy, các bạn trẻ rất hay để các hình dung của mình bay theo các kịch bản sân khấu, trong đó mâu thuẫn bị đẩy lên cao trào. Nhưng điều mà bác sĩ đối diện trong mẫu giao tiếp này thật ra không như vậy. Vì thế, tôi chọn dịch một đoạn tản văn trong “Bị tử vong” của tác giả ATUL GAWANDE, để minh họa cho điều này.

ATUL GAWANDE là tác giả của ba cuốn sách bán chạy nhất: Complications, lọt vào chung kết Giải thưởng Sách Quốc gia; Better, được Amazon.com bình chọn là một trong mười cuốn sách hay nhất năm 2007; và The Checklist Manifesto. Ông là một bác sĩ phẫu thuật tại Bệnh viện Brigham and Women’s ở Boston, một cây bút cộng tác cho tờ New Yorker, và là một giáo sư tại Trường Y Harvard và Trường Y tế Công cộng Harvard. Ông đã giành được Giải thưởng Lewis Thomas cho Viết về Khoa học, Học bổng MacArthur và hai Giải Tạp chí Quốc gia. Trong công việc của mình ở lĩnh vực y tế cộng đồng, ông là giám đốc của Ariadne Labs, một trung tâm chung về đổi mới hệ thống y tế và là chủ tịch của Lifebox, một tổ chức phi lợi nhuận giúp phẫu thuật an toàn hơn trên toàn cầu. Vào năm 2014, Gawande đã đưa ra loạt bài giảng trên Radio 4 Reith, mang tên ‘Tương lai của y học’, dựa trên “Bị tử vong”. Ông và vợ có ba người con và sống ở Newton, Massachusetts.

Sau đây là đoạn trích:

Tôi đã học về rất nhiều điều trong trường y, nhưng tử vong không phải là một trong số đó. Mặc dù tôi đã được đưa cho một cái xác khô, còn da, để mổ xẻ trong học kỳ đầu tiên của mình, thì đó chỉ là một cách để tìm hiểu về giải phẫu con người. Sách giáo khoa của chúng tôi hầu như không có gì về sự già nua, yếu ớt hay chết chóc. Quá trình diễn ra như thế nào, mọi người trải qua giai đoạn cuối cuộc đời như thế nào và nó ảnh hưởng như thế nào đến những người xung quanh họ, họ dường như ở bên lề. Cách chúng tôi nhìn thấy cái chết, và cách các giáo sư của chúng tôi nhìn thấy nó, mục đích của việc học ở trường y là để dạy cách cứu sống, chứ không phải làm thế nào để có xu hướng chết.

Lần duy nhất tôi nhớ thảo luận về tỷ lệ tử vong là trong một giờ chúng tôi dành cho Cái chết của Ivan Ilyich, cuốn tiểu thuyết kinh điển của Tolstoy. Đó là trong một cuộc hội thảo hàng tuần có tên Bệnh nhân-Bác sĩ — một phần trong nỗ lực của trường nhằm làm cho chúng tôi trở thành những bác sĩ nhân văn và tròn trịa hơn. Một số tuần, chúng tôi sẽ thực hành thủ thuật khám bệnh của mình; các tuần khác, chúng tôi sẽ tìm hiểu về tác động của kinh tế xã hội và chủng tộc đối với sức khỏe. Và một buổi chiều nọ, chúng tôi chiêm ngưỡng sự đau khổ của Ivan Ilyich khi anh ấy phải nằm vì bệnh và ngày càng nặng vì một số căn bệnh không có tên, không thể chữa trị.

Trong truyện, Ivan Ilyich bốn mươi lăm tuổi, một quan tòa cấp trung của Saint Petersburg có cuộc sống chủ yếu xoay quanh những mối quan tâm vụn vặt về địa vị xã hội. Một ngày nọ, anh ta bị ngã khỏi một cái thang và bị đau ở bên hông. Thay vì giảm bớt, cơn đau trở nên tồi tệ hơn và anh ta không thể làm việc. Trước đây là một “người đàn ông thông minh, bóng bẩy, sôi nổi và dễ mến,” anh ta trở nên chán nản và tự ti. Bạn bè và đồng nghiệp tránh anh ta. Vợ anh ta gọi một loạt bác sĩ đắt hơn bao giờ hết. Không ai trong số họ có thể đồng ý về một chẩn đoán, và các biện pháp khắc phục mà họ đưa cho anh ta không đạt được kết quả gì. Đối với Ilyich, tất cả chỉ là một sự tra tấn, và anh ta tức giận và tức giận với hoàn cảnh của mình.

“Điều khiến Ivan Ilyich dày vò nhất,” Tolstoy viết, “là sự lừa dối, dối trá, mà vì một lý do nào đó, tất cả họ đều chấp nhận, rằng anh ta không chết mà chỉ đơn giản là bị bệnh, và anh ta chỉ cần giữ im lặng và trải qua một cuộc điều trị và sau đó là điều gì đó kết quả rất tốt. ” Ivan Ilyich có những tia hy vọng rằng có thể mọi thứ sẽ xoay chuyển, nhưng khi anh ta ngày càng yếu đi và gầy mòn hơn, anh ta biết điều gì đang xảy ra. Anh ta sống trong nỗi thống khổ và nỗi sợ hãi cái chết. Nhưng cái chết không phải là chủ đề mà bác sĩ, bạn bè hoặc gia đình của anh ta có thể quan tâm. Đó là nguyên nhân gây ra nỗi đau sâu sắc nhất cho anh ấy.

Tolstoy viết: “Không ai thương hại anh ta như anh ta muốn được thương hại. “Vào những khoảnh khắc nhất định sau khi đau khổ kéo dài, anh ấy ước nhất (mặc dù anh ấy sẽ xấu hổ khi thú nhận điều đó) để ai đó thương hại anh ấy như một đứa trẻ bệnh tật đáng thương. Anh khao khát được vỗ về, vỗ về. Anh ấy biết anh ấy là một viên chức quan trọng, rằng anh ấy có bộ râu chuyển màu xám rất đẹp, và do đó điều anh ấy mong ước là không thể, nhưng anh ấy vẫn khao khát nó. “

Như các sinh viên y khoa chúng ta đã thấy, việc những người xung quanh Ivan Ilyich không thể an ủi hoặc thừa nhận những gì đang xảy ra với anh ta là một sự thất bại về tư cách và văn hóa. Nước Nga cuối thế kỷ 19 trong câu chuyện của Tolstoy có vẻ khắc nghiệt và gần như nguyên thủy đối với chúng ta. Cũng như chúng tôi tin rằng y học hiện đại có thể chữa khỏi cho Ivan Ilyich bất cứ căn bệnh nào mà anh ấy mắc phải, vì vậy chúng tôi cũng coi như sự trung thực và tử tế là những trách nhiệm cơ bản của một bác sĩ hiện đại. Chúng tôi tin tưởng rằng trong tình huống như vậy chúng tôi sẽ hành động từ bi.

Điều khiến chúng tôi lo lắng là kiến ​​thức. Mặc dù chúng tôi biết cách thông cảm, nhưng chúng tôi không chắc chắn rằng chúng tôi sẽ biết cách chẩn đoán và điều trị đúng cách. Chúng tôi đã trả học phí y khoa của mình để tìm hiểu về quá trình bên trong cơ thể, các cơ chế phức tạp của các bệnh lý của nó, và vô số khám phá và công nghệ đã tích lũy để ngăn chặn chúng. Chúng tôi không nghĩ rằng chúng tôi cần phải suy nghĩ về nhiều thứ khác. Vì vậy, chúng tôi loại bỏ Ivan Ilyich ra khỏi đầu của chúng tôi.

Tuy nhiên, trong vòng vài năm, khi tôi trải nghiệm quá trình đào tạo và thực hành phẫu thuật, tôi đã gặp phải những bệnh nhân, và buộc phải đối mặt với thực tế suy yếu và tử vong, và không mất nhiều thời gian để nhận ra rằng tôi đã không thể giúp họ theo một cách nào đó.

Tôi BẮT ĐẦU VIẾT khi tôi còn là một bác sĩ ngoại khoa mới vào nghề, và trong một trong những bài tiểu luận đầu tiên của tôi, tôi đã kể câu chuyện về một người đàn ông mà tôi gọi là Joseph Lazaroff. Ông ta là một quản lý thành phố, người đã mất vợ vì bệnh ung thư phổi vài năm trước đó. Bây giờ, ông đã ngoài sáu mươi và bản thân mắc một căn bệnh ung thư không thể chữa khỏi – một căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt di căn rộng. Ông ấy đã giảm hơn năm mươi cân. Bụng, bìu và chân của ông chứa đầy dịch. Một ngày nọ, ông thức dậy, không thể cử động chân hoặc tự đi vệ sinh. Ông ấy nhập viện, nơi tôi gặp ông ấy, khi đang là bác sĩ thực tập trong tổ phẫu thuật thần kinh. Chúng tôi phát hiện ra rằng ung thư đã di căn đến cột sống ngực của ông, nơi nó đang chèn ép tủy sống. Bệnh ung thư không thể chữa khỏi, nhưng chúng tôi hy vọng nó có thể được điều trị. Tuy nhiên, bức xạ cấp đã không thể thu nhỏ khối ung thư, và vì vậy bác sĩ giải phẫu thần kinh đưa ra cho ông hai lựa chọn: chăm sóc giảm nhẹ hoặc phẫu thuật để loại bỏ khối u đang phát triển khỏi cột sống của anh ta. Lazaroff đã chọn phẫu thuật. Công việc của tôi, với tư cách là bác sĩ thực tập của dịch vụ phẫu thuật thần kinh, là nhận được xác nhận bằng văn bản của ông rằng ông ta hiểu những rủi ro của phẫu thuật và muốn được mổ.

Tôi đã đứng bên ngoài phòng ông ấy, trên bàn tay ẩm ướt của tôi là bệnh án của ông, cố gắng tìm cách để tìm hiểu chủ đề này với ông ấy. Hy vọng rằng cuộc phẫu thuật sẽ ngăn chặn sự tiến triển của tổn thương tủy sống của ông. Nó sẽ không thể chữa khỏi, hoặc đảo ngược tình trạng tê liệt, hoặc đưa ông trở lại cuộc sống mà ông đã có. Dù chúng tôi có làm gì thì ông ấy cũng chỉ còn sống được vài tháng nữa, và thủ tục này vốn dĩ rất nguy hiểm. Nó đòi hỏi phải mở lồng ngực, cắt bỏ một xương sườn và làm xẹp phổi để lấy xương sống. Mất máu sẽ nhiều. Việc phục hồi sẽ rất khó khăn. Trong tình trạng suy nhược của mình, ông ta phải đối mặt với những nguy cơ đáng kể về các biến chứng sau đó. Cuộc phẫu thuật đe dọa cả việc làm xấu đi và rút ngắn mạng sống của ông. Nhưng bác sĩ giải phẫu thần kinh có thể vượt qua những nguy hiểm này, và Lazaroff đã rõ ràng rằng anh ta muốn phẫu thuật. Tất cả những gì tôi phải làm là đi vào và lo các thủ tục giấy tờ.

Nằm trên giường, Lazaroff trông xám xịt và hốc hác. Tôi nói rằng tôi là một bác sĩ thực tập và tôi sẽ đến để được ông ấy đồng ý phẫu thuật, điều này yêu cầu xác nhận rằng ông nhận thức được những rủi ro. Tôi nói rằng ca phẫu thuật có thể loại bỏ khối u nhưng để lại cho ông những biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như liệt hoặc đột quỵ, và thậm chí nó có thể gây tử vong. Tôi cố gắng nói rõ ràng, không gay gắt, nhưng cuộc thảo luận của tôi đã khiến ông ấy ủng hộ. Tương tự như vậy, khi con trai ông, người đang ở trong phòng, đặt câu hỏi liệu các biện pháp tích cực có phải là một ý kiến tốt không. Lazaroff không thích ý kiến đó chút nào.

“Bạn đừng từ bỏ tôi,” ông ấy nói. “Bạn cho tôi mọi cơ hội mà tôi có thể có.” Bên ngoài phòng, sau khi ông ký vào đơn, người con trai đưa tôi sang một bên cửa. Mẹ của anh đã chết trên máy thở trong phòng chăm sóc đặc biệt, và vào thời điểm đó cha anh nói rằng ông không muốn bất cứ điều gì tương tự xảy ra với mình. Nhưng bây giờ ông ấy đã cương quyết làm “mọi thứ”.

Khi đó tôi tin rằng ông Lazaroff đã chọn sai, và tôi vẫn tin điều này. Ông ấy đã chọn một cách tồi tệ không phải vì tất cả những nguy hiểm, mà vì cuộc phẫu thuật không có cơ hội mang lại cho ông ấy những gì anh ấy thực sự muốn: sự ổn định của ông ấy, sức mạnh của ông ấy, cuộc sống mà ông ấy đã biết trước đây. Ông đang theo đuổi chỉ là một thứ tưởng tượng với nguy cơ một cái chết kéo dài và khủng khiếp – đó chính xác là những gì ông nhận được.

Ca mổ thành công về mặt kỹ thuật. Hơn 8 tiếng rưỡi, nhóm phẫu thuật đã loại bỏ khối xâm lấn vào cột sống của ông và dựng lại thân đốt sống bằng xi măng acrylic. Áp lực lên tủy sống của anh ấy đã biến mất. Nhưng ông không bao giờ hồi phục sau đó. Trong quá trình chăm sóc đặc biệt, ông bị suy hô hấp, nhiễm trùng huyết, tụ máu do bất động, sau đó chảy máu do dùng thuốc chống đông để điều trị. Mỗi ngày, chúng tôi càng tụt lại phía sau. Cuối cùng chúng tôi phải thừa nhận rằng ông ấy sắp chết. Vào ngày thứ mười bốn, con trai ông ấy nói với cả nhóm rằng chúng ta nên dừng lại.

Tôi đã quyết định đưa Lazaroff ra khỏi chiếc máy thở nhân tạo đang giữ cho ông sống sót. Tôi đã kiểm tra để đảm bảo rằng nhỏ giọt morphin của ông ấy đã được bật, vì vậy ông ấy sẽ không cảm thấy bị đói không khí. Tôi ghé sát vào và, trong trường hợp ông có thể nghe thấy tôi, nói rằng tôi sẽ lấy ống thở ra khỏi miệng ông. Ông ho vài lần khi tôi kéo nó ra, mở mắt và nhắm lại. Hơi thở của ông trở nên nặng nhọc, rồi ngừng lại. Tôi đặt ống nghe của mình lên ngực và nghe tim ông ấy như nhói đi.

Bây giờ, hơn một thập kỷ sau khi tôi lần đầu tiên kể câu chuyện của ông Lazaroff, điều khiến tôi kinh ngạc nhất không phải là quyết định của ông ấy tồi tệ đến mức nào mà là tất cả chúng ta đều tránh nói một cách thành thật về sự lựa chọn trước mặt ông ấy. Chúng tôi không gặp khó khăn gì khi giải thích những nguy hiểm cụ thể của các phương pháp điều trị khác nhau, nhưng chúng tôi chưa bao giờ thực sự chạm vào thực tế căn bệnh của ông ấy. Các bác sĩ chuyên khoa ung thư, xạ trị, bác sĩ phẫu thuật và các bác sĩ khác của ông đều đã gặp ông qua nhiều tháng điều trị cho một vấn đề mà họ biết rằng không thể chữa khỏi. Chúng tôi không bao giờ có thể thảo luận về sự thật lớn hơn về tình trạng của anh ấy hoặc giới hạn cuối cùng của khả năng của chúng tôi, chứ đừng nói đến điều gì có thể quan trọng nhất đối với ông ấy khi ông gần kết thúc cuộc đời. Nếu ông ấy đang theo đuổi một sự si mê, thì chúng ta cũng vậy. Tại đó, ông nằm trong bệnh viện, bị liệt một phần do căn bệnh ung thư di căn khắp cơ thể. Cơ hội để ông có thể trở lại bất cứ điều gì giống như cuộc sống mà ông ta đã có vài tuần trước đó là bằng không. Nhưng thừa nhận điều này và giúp ông ấy đối phó với nó dường như nằm ngoài chúng ta. Chúng tôi không cung cấp sự thừa nhận hoặc an ủi hoặc hướng dẫn. Chúng tôi vừa có một cuộc điều trị mà ông ấy trải qua. Có thể một cái gì đó rất tốt sẽ có kết quả.

Chúng tôi đã làm tốt hơn một chút so với các bác sĩ nguyên thủy ở thế kỷ 19 của Ivan Ilyich — thực ra, tệ hơn nữa là đưa ra những hình thức tra tấn thể chất mới mà chúng tôi đã gây ra cho bệnh nhân của mình. Nó đủ để khiến bạn tự hỏi, những người nguyên thủy là ai.

NĂNG LỰC KHOA HỌC HIỆN ĐẠI đã làm thay đổi sâu sắc quá trình sống của con người. Con người sống lâu hơn và tốt hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử. Nhưng những tiến bộ khoa học đã biến quá trình lão hóa và chết đi thành những trải nghiệm y tế, những vấn đề cần được quản lý bởi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Và chúng tôi trong thế giới y tế đã chứng minh là không chuẩn bị cho nó, một cách đáng báo động.

Thực tế này phần lớn đã bị che giấu, khi giai đoạn cuối của cuộc đời trở nên ít quen thuộc hơn đối với mọi người. Gần đây nhất là năm 1945, hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra trong nhà. Đến những năm 1980, chỉ có 17%. Những người bằng cách nào đó đã chết tại nhà, có thể đã chết quá đột ngột trước khi có thể đến bệnh viện — chẳng hạn như do một cơn đau tim, đột quỵ, hoặc chấn thương dữ dội — hoặc quá cô lập để đến một nơi nào đó có thể giúp đỡ. Trên khắp không chỉ Hoa Kỳ mà còn toàn bộ thế giới công nghiệp hóa, trải nghiệm của sự lão hóa và cái chết tiên tiến đã chuyển sang các bệnh viện và viện dưỡng lão.

Khi tôi trở thành một bác sĩ, tôi vượt qua bên kia cánh cửa bệnh viện và, mặc dù tôi đã lớn lên với hai bác sĩ là cha mẹ tôi, mọi thứ tôi thấy đều mới mẻ đối với tôi. Tôi chắc chắn chưa từng thấy ai chết trước đây và khi tôi thấy chuyện này, thực sự là một cú sốc. Đó không phải là vì nó khiến tôi nghĩ đến cái chết của chính mình. Bằng cách nào đó, khái niệm này đã không xảy ra với tôi, ngay cả khi tôi chứng kiến ​​những người cùng tuổi với mình chết. Tôi ở trong một chiếc áo blouse trắng; còn họ ở trong chiếc áo choàng bệnh nhân. Tôi không thể hình dung nó theo cách khác. Tuy nhiên, tôi có thể hình dung gia đình mình ở vào nơi họ ở. Tôi đã thấy nhiều thành viên trong gia đình — vợ tôi, cha mẹ tôi và các con tôi — trải qua những căn bệnh nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng. Ngay cả trong những hoàn cảnh tồi tệ, y học vẫn luôn giúp họ vượt qua. Do đó, tôi bị sốc khi thấy điều trị không thể kéo mọi người vượt qua. Về lý thuyết, tôi biết rằng bệnh nhân của tôi có thể chết, tất nhiên, nhưng mọi trường hợp, thực tế đều có vẻ như một vi phạm, như thể các quy tắc mà tôi nghĩ rằng chúng tôi đang chơi đã bị phá vỡ. Tôi không biết mình nghĩ đây là trò chơi gì, nhưng trong trận đấu đó, chúng tôi luôn thắng.

Cái chết và sự đối diện cái chết xảy ra với mỗi bác sĩ và y tá mới. Những lần đầu tiên, một số người khóc. Một số ở sau cánh cửa. Một số hầu như không nhận thấy điều gì. Khi tôi nhìn thấy những cái chết đầu tiên, tôi đã hết sức đề phòng để không khóc. Nhưng tôi đã mơ về chúng. Tôi đã có những cơn ác mộng lặp đi lặp lại khi tôi tìm thấy xác bệnh nhân trong nhà của mình — trên giường của chính tôi.

Tất nhiên, cái chết không phải là một thất bại. Chết là bình thường. Cái chết có thể là kẻ thù, nhưng nó cũng là trật tự tự nhiên của mọi thứ. Tôi biết những sự thật này một cách trừu tượng, nhưng tôi không biết chúng một cách cụ thể — rằng chúng có thể là sự thật không chỉ cho tất cả mọi người mà còn cho ‘người này’, ngay trước mặt tôi, cho ‘người này’ mà tôi chịu trách nhiệm.

Bác sĩ phẫu thuật quá cố Sherwin Nuland, trong cuốn sách kinh điển How We Die, đã than thở: “Sự cần thiết của chiến thắng cuối cùng theo tự nhiên đã được các thế hệ trước chúng ta mong đợi và chấp nhận. Các bác sĩ nên sẵn sàng nhận ra các dấu hiệu thất bại hơn và ít kiêu ngạo hơn khi từ chối chúng ”. Nhưng khi tôi đi trên con đường của thế kỷ XXI, được đào tạo trong việc triển khai kho công nghệ tuyệt vời của chúng tôi, tôi tự hỏi chính xác việc bớt kiêu ngạo thực sự có nghĩa là gì.

Bạn trở thành một bác sĩ cho những gì bạn tưởng tượng là sự hài lòng về công việc, và điều đó hóa ra là sự hài lòng về năng lực. Đó là một sự hài lòng sâu sắc rất giống như trải nghiệm của một người thợ mộc trong việc khôi phục một chiếc rương cổ mỏng manh hay một giáo viên khoa học trải qua khi đưa một học sinh lớp năm đến với sự nhận biết đột ngột, chuyển đổi tâm trí về nguyên tử là gì. Nó một phần đến từ việc giúp đỡ người khác. Nhưng nó cũng đến từ kỹ thuật thành thạo và khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp, khó khăn. Năng lực của bạn mang lại cho bạn cảm giác an toàn về danh tính. Vì vậy, đối với một bác sĩ lâm sàng, không gì đe dọa con người bạn hơn là một bệnh nhân với một vấn đề mà bạn không thể giải quyết.

Không thể thoát khỏi bi kịch của cuộc sống, đó là tất cả chúng ta đều già đi từ ngày chúng ta được sinh ra. Người ta thậm chí có thể hiểu và chấp nhận sự thật này. Nhưng điều đó không giống như nói rằng một người biết cách đối phó với những gì không thể sửa chữa. Tôi, trong một nghề đã thành công, vì khả năng sửa chữa của nó. Nếu sự cố của bạn có thể khắc phục được, chúng tôi biết phải làm gì. Nhưng nếu nó không? Thực tế là chúng ta không có câu trả lời thích hợp cho câu hỏi này, thật đáng lo ngại và đã gây ra sự nhẫn tâm, vô nhân đạo và đau khổ phi thường.

ĐÂY LÀ cuốn sách về trải nghiệm cái chết hiện đại — về cảm giác giống như những sinh vật già đi và chết đi, mà y học đã thay đổi trải nghiệm đó như thế nào và nó không như thế nào, nơi ý tưởng của chúng ta về cách đối phó với sự hữu hạn của chúng ta đã trở thành hiện thực Sai lầm. Khi tôi vượt qua một thập kỷ hành nghề phẫu thuật và đạt đến tuổi trung niên, tôi thấy rằng cả tôi và bệnh nhân của tôi đều không thấy tình trạng hiện tại của mình có thể chấp nhận được. Nhưng tôi cũng thấy không rõ câu trả lời nên là gì, hoặc thậm chí liệu câu trả lời thích hợp nào có thể thực hiện được hay không. Tuy nhiên, tôi có niềm tin của nhà văn và nhà khoa học rằng bằng cách kéo tấm màn che ra và quan sát kỹ, một người có thể hiểu được điều gì khó hiểu, kỳ lạ hoặc đáng lo ngại nhất.

Bạn không cần phải dành nhiều thời gian cho người già hoặc những người mắc bệnh nan y chỉ để xem tần suất điều trị vì không giúp được gì cho những người mà nó được cho là sẽ có ích. Những ngày tàn lụi trong cuộc đời của chúng ta được trao cho những phương pháp điều trị bổ sung, nhưng lại hủy hoại cơ thể chúng ta, nhằm có cơ hội hưởng lợi. Chúng được dành cho các cơ sở giáo dục – viện dưỡng lão và đơn vị chăm sóc đặc biệt – nơi những thói quen ẩn danh, tập trung, đã cắt đứt chúng ta khỏi tất cả những điều quan trọng đối với chúng ta trong cuộc sống. Việc chúng ta miễn cưỡng kiểm tra một cách trung thực trải nghiệm của sự già đi và cái chết đã làm gia tăng tác hại mà chúng ta gây ra cho mọi người và từ chối họ những tiện nghi cơ bản mà họ cần nhất. Thiếu một cái nhìn thống nhất về cách mọi người có thể sống thành công cho đến cuối cùng, chúng tôi đã để số phận của mình bị kiểm soát bởi những mệnh lệnh của y học, công nghệ và những người xa lạ.

Tử vong có thể là một chủ đề nguy hiểm. Một số người sẽ hoảng sợ trước viễn cảnh một bác sĩ viết về tính không thể tránh khỏi của sự suy sụp và cái chết. Đối với nhiều người, cuộc nói chuyện như vậy, dù được đóng khung cẩn thận đến đâu, cũng làm dấy lên bóng ma về một xã hội sẵn sàng hy sinh bản thân cho bệnh tật và tuổi già. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu những người bệnh và người già đã bị hy sinh – những nạn nhân của việc chúng ta từ chối chấp nhận sự bất khả kháng của vòng đời mình? Và điều gì sẽ xảy ra nếu có những cách tiếp cận tốt hơn, ngay trước mắt chúng ta, đang chờ được công nhận?

Vị thành niên- bài 4

Bài 4: Chấp nhận rủi ro, hành vi chống đối xã hội và phạm pháp

Rủi ro được định nghĩa trong Từ điển tiếng Anh Thế giới Encarta là sự nguy hiểm mà thương tích, thiệt hại hoặc mất mát sẽ xảy ra. Các hành vi rủi ro thường gặp ở lứa tuổi vị thành niên. Các loại rủi ro phổ biến là hành vi hung hăng và bạo lực, lái xe liều lĩnh, quan hệ tình dục thông thường và không an toàn, sử dụng ma túy và các hành vi online nhiều nguy cơ. Hậu quả của những hành vi đó có thể do cá nhân đó phải gánh chịu, và / hoặc có thể do người khác gánh chịu. Một loại tương tự là hành vi liều lĩnh, nghĩa là hành vi được thực hiện mà không quan tâm rõ ràng đến hậu quả.

Hành vi chống đối xã hội có thể được định nghĩa là gây phiền nhiễu, thiếu cân nhắc, hoặc thờ ơ với sự thoải mái hoặc nhu cầu của người xung quanh, hoặc đối với toàn xã hội (Encarta). Các ví dụ phổ biến là vẽ bậy, phá hoại, trộm cắp vặt và đua xe. Ở đây, tác hại sẽ ở trên những người khác, mặc dù một số hành vi chống đối xã hội có nguy cơ khiến người chống đối xã hội có thể bị trừng phạt. Điều này đặc biệt xảy ra với hành vi phạm pháp, được định nghĩa là hành vi hoặc hành động, mang tính chống đối xã hội hoặc bất hợp pháp, đặc biệt là của những người trẻ tuổi (Encarta). Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng một định nghĩa hẹp hơn về phạm pháp là hành vi phạm pháp hoặc tội phạm, chẳng hạn như ăn cắp, hành hung, sử dụng ma túy bất hợp pháp hoặc quan hệ tình dục sớm. Tuy nhiên, những người khác thích định nghĩa rộng hơn của phạm pháp là hành vi chống đối xã hội hoặc có vấn đề. Với các báo cáo thống kê hành vi, bạn đọc cần xem xét quan điểm của nhà nghiên cứu để có hình dung tốt về các con số.

Tỷ lệ hành vi rủi ro và thay đổi trong các độ tuổi

Không nghi ngờ gì, một số loại hành vi chống đối xã hội hoặc hành vi chấp nhận rủi ro khá phổ biến ở tuổi vị thành niên. Do đó, ít nhất một số trẻ tham gia hạn chế hoặc nhỏ vào các hành vi chống đối xã hội có thể được coi là một đặc điểm phổ biến nếu không muốn nói là chuẩn mực của tuổi vị thành niên. Bạn đọc dễ dàng tìm thấy các con số thống kê trong nhiều tài liệu sẵn có trên mạng, nên tôi sẽ không đưa thêm nhiều dữ liệu mà chỉ đề cập đến những con số minh họa khía cạnh tâm lý học trong vấn đề này.

Tuy nhiên, các loại hành vi chống đối xã hội khác nhau cho thấy những quỹ đạo khác nhau. Các hành vi gây hậu quả mà người khác gánh chịu cho thấy sự suy giảm từ 14 đến 16 tuổi. Có vẻ như khoảng 14 tuổi là cao điểm đối với nhiều trẻ có thể có các loại hành vi chống đối xã hội nhỏ. Tuy nhiên, hút thuốc và uống rượu bia- là hành vi gây hậu quả bản thân gánh chịu, cho thấy sự gia tăng đáng kể từ 14 lên 16 tuổi và hơn nữa – có lẽ vì thuốc lá và đồ uống có cồn trở nên dễ dàng sử dụng hơn ở lứa tuổi lớn hơn. Tất nhiên, một vài năm sau, nhiều người trưởng thành hút thuốc và uống rượu hoàn toàn hợp pháp, và những hành vi này chỉ có thể được coi là hành vi nguy cơ trong một số trường hợp nhất định (ví dụ: mang thai) hoặc nếu quá mức.

Từ 14 tuổi trở đi, việc đánh nhau suy giảm. 

Khác biệt theo giới

Nói chung, nam giới thường tham gia vào các hành vi rủi ro và chống đối xã hội nhiều hơn nữ giới. Một phân tích tổng hợp của 150 nghiên cứu về việc chấp nhận rủi ro, báo cáo sự khác biệt về giới tính, cho thấy rằng ở hầu hết các hạng mục và ở hầu hết các độ tuổi, nam đạt điểm cao hơn. Tuy nhiên, nữ có điểm số về hút thuốc ở tuổi vị thành niên cao hơn một chút, và không có nhiều sự khác biệt về giới trong việc uống rượu hoặc sử dụng các loại ma túy khác. Đây là các nghiên cứu tại Anh.

Những thay đổi lịch sử

Các cuộc khảo sát YRBS ở Hoa Kỳ đã được thực hiện hàng năm kể từ năm 1991, và chúng đưa ra một bức tranh chi tiết về những thay đổi kể từ đó. Bức tranh nhìn chung là tích cực cho đến nay khi nhiều hành vi chấp nhận rủi ro được quan tâm. Tỷ lệ đánh nhau và mang vũ khí đã giảm – mặc dù tỷ lệ mang vũ khí đã chững lại trong những năm gần đây. Tỷ lệ sử dụng thuốc lá, rượu và cần sa cũng đã giảm trong hầu hết thời kỳ này.

Tình hình ở Việt Nam

Theo một báo cáo tóm tắt của Unicef năm 2018 về sức khỏe tâm thần và tâm lý của trẻ em và thanh niên tại một số tình và thành phố (bao gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Điện Biên và An Giang) thì không thấy nhắc đến việc xem xét các hành vi rủi ro này.

Nhưng trong ‘Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam’ (2019) được thực hiện nhằm đánh giá những thay đổi trong hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTNVPPL) trong giai đoạn 2006-2018, thì có cung cấp một số dữ liệu. Có lẽ vì đây là báo cáo pháp luật nên dữ liệu chủ yếu đề cập đến các hành vi gây hậu quả người khác gánh chịu, ở mức độ nghiêm trọng. Trong số 10 tội danh phổ biến nhất do NCTN thực hiện, trừ các tội trộm cắp và tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng, số bị can chưa thành niên bị khởi tố về các tội danh còn lại đều giảm, giữ ở mức ổn định, hoặc tăng không đáng kể.
Khoảng 96% NCTNVPPL là nam. Đa số NCTNVPPL thuộc nhóm tuổi 16 đến dưới 18. Trái với những nhận định từ các phương tiện thông tin đại chúng và nhiều diễn đàn cho rằng NCTNVPPL ngày càng trẻ hóa, số NCTNVPPL dưới 14 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ và có xu hướng giảm từ gần 9% vào năm 2006 xuống còn gần 5% vào năm 2018. Đa số NCTNVPPL là vi phạm lần đầu. 

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro, hành vi chống đối xã hội và phạm pháp

Mặc dù các hành vi chống đối xã hội nhỏ hoặc không thường xuyên có thể thường xuyên xảy ra ở tuổi vị thành niên, nhưng không phải tất cả trẻ vị thành niên đều tham gia và nhiều trẻ tham gia nhưng rất ít. Chỉ có một tỷ lệ tương đối nhỏ thanh niên tham gia nhiều, khoảng 12% trong độ tuổi thanh thiếu niên, đã tham gia vào ba hành vi hoặc nhiều hơn (theo một số nghiên cứu tại Anh).

Ngoài độ tuổi và giới tính, nhiều nghiên cứu đã xem xét những yếu tố nguy cơ nào có thể liên quan để giải thích tại sao một số người trẻ tuổi lại tham gia nhiều hơn những người khác. Ví dụ, nghiên cứu của Cambridge về các cậu bé ở London đã báo cáo về các yếu tố nguy cơ phạm pháp. Bảy yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất từ ​​thời thơ ấu của tình trạng phạm pháp nhiều lần ở tuổi vị thành niên là: phiền hà ở trường học; hiếu động thái quá / kém tập trung; trí tuệ thấp và kém; tội phạm gia đình; gia đình nghèo khó; và việc nuôi dạy con cái nghèo nàn của cha mẹ. Tuy nhiên, nếu gia đình chuyển ra khỏi London, việc di chuyển này được coi là một yếu tố bảo vệ!

Một nghiên cứu đã xác định mối quan hệ không tốt với cha mẹ, sống trong một gia đình chỉ có cha mẹ, có thái độ tiêu cực với trường học, kết giao với các bạn cùng trang lứa có thái độ tương tự và bị bắt nạt là những yếu tố nguy cơ cho cả hành vi nguy cơ gây hậu quả bên ngoài và bên trong. Nghiên cứu này cũng xác định một số yếu tố bảo vệ có liên quan đến khả năng thấp hơn các hành vi nguy cơ mà họ gọi là các hoạt động phát triển bản thân. Chúng bao gồm chơi một nhạc cụ, làm công việc cộng đồng, tham gia các lớp học tôn giáo và đọc sách để giải trí.

Có rất nhiều sự nhất quán trong các báo cáo khác nhau này. Lý thuyết kiểm soát xã hội, được phát triển bởi Travis Hirschi, lập luận rằng hành vi chống đối xã hội ít xảy ra hơn khi người trẻ có quyền tham gia vào các tổ chức xã hội như gia đình, trường học hoặc các câu lạc bộ và xã hội. Một số ràng buộc hoặc cam kết với các nhóm này hoạt động như một biện pháp kiểm soát sự cám dỗ để thực hiện các hành vi nguy hiểm hoặc phạm pháp.

Đặc biệt, việc nuôi dạy con cái và các yếu tố gia đình đã liên quan đến nhiều nghiên cứu về hành vi phạm pháp. Ví dụ, một nghiên cứu dọc hơn 400 cậu bé người Canada gốc Pháp ở Montreal đã xem xét tác động của quá trình chuyển đổi gia đình đối với sự phát triển của hành vi phạm pháp từ 12 đến 15 tuổi. Họ đặc biệt xem xét những tác động của ly hôn và tái hôn, so sánh những trường hợp xảy ra khi cậu bé 6-11 tuổi và những trường hợp cậu bé 12-15 tuổi. Họ không thấy ly hôn có ảnh hưởng chính đến việc phạm pháp. Tuy nhiên, họ đã phát hiện ra rằng trẻ em trai trong các gia đình tái hôn trong độ tuổi 12–15 có nhiều khả năng trở nên phạm pháp hơn. Những cậu bé này cho rằng cha mẹ ít biểu đạt và ít giám sát hành vi của chúng hơn. Bên cạnh sự thiếu giám sát của cha mẹ, các yếu tố dự báo khác của hành vi phạm pháp là nghèo đói và thất bại trong học tập. Trong thực hành lâm sàng ở Việt Nam, tôi nhận thấy nhiều xung đột xảy ra lại là do cha mẹ ứng xử theo phong cách ‘làm bạn với con’ thái quá, dẫn đến sự thiếu vắng giám sát. Khi cha mẹ nhận ra, sự giám sát trở lại gặp nhiều khó khăn.

Như vậy, sự giám sát của cha mẹ và giám sát hành vi có vẻ quan trọng, nhưng nó cần được thực hiện một cách tế nhị. Hai quan điểm lý thuyết cho rằng một số loại hành vi của cha mẹ có thể làm trầm trọng thêm các hành vi chống đối xã hội. Lý thuyết phản ứng tâm lý cho rằng những cấm đoán mang tính giáo điều và những quy tắc hạn chế về hành vi có thể dẫn đến sự tức giận và từ chối quyền lực, tạo ra một loại hiệu ứng boomerang. Tương tự, lý thuyết tự quyết lập luận rằng quyền tự chủ được coi trọng mạnh mẽ và nếu điều này bị thất vọng, nó có thể dẫn đến sự tức giận và bất chấp chống đối. Một loạt các nghiên cứu ở Hà Lan đã tìm thấy bằng chứng xác thực rằng việc nuôi dạy con cái rất kiểm soát và không cho phản ứng đã thực sự dự đoán các hành vi như vi phạm quy tắc, đánh nhau và ăn cắp ở tuổi vị thành niên.

Tuy nhiên, một yếu tố nguy cơ phổ biến khác là có mối quan hệ với những người bạn phạm tội. Với văn hóa Việt Nam, nhận thức này không xa lạ, thường được giáo dục sớm trong gia đình. Tuy nhiên, vẫn không phải là lúc nào cũng thành công. Một yếu tố có thể có tác dụng trong việc hiểu được tác động của những trẻ chống đối xã hội hoặc phạm pháp là lý thuyết nâng cao địa vị và danh tiếng. Địa vị trong nhóm đồng lứa rất quan trọng đối với trẻ, như đã nói ở bài trước. Lý thuyết nâng cao danh tiếng lập luận rằng tham gia vào các hoạt động phù hợp với thái độ và giá trị của nhóm đồng lứa có khả năng nâng cao vị thế của bạn trong nhóm đó. Đối với các nhóm không phạm pháp, hành vi chống đối xã hội có thể được coi là gây rắc rối và là lý do để từ chối hoặc loại trừ. Tuy nhiên, một nhóm phạm pháp sẽ có các giá trị khá khác. Để nâng cao vị thế của bạn trong một nhóm như vậy, bạn không chỉ tham gia vào các hoạt động chống đối xã hội mà còn có lợi cho việc khởi xướng chúng và thể hiện rằng bạn táo bạo hơn những người khác. Nói tóm lại, hành vi chống đối xã hội có thể là lý do để loại trừ ở một số nhóm đồng lứa, nhưng là lý do để hòa nhập vào những nhóm khác.

Hành vi nguy cơ online

Internet đã cho phép một khu vực trải nghiệm mới, trong đó các loại hành vi nguy cơ khác với hành vi offline có thể được thực hiện. Tuy nhiên, các yếu tố tương tự xung quanh mối quan hệ cha mẹ và bạn bè đồng trang lứa dường như cũng hiện hữu trong lĩnh vực này. Một nghiên cứu ở Singapore với trẻ 13-14 tuổi đã kiểm tra rủi ro tiếp xúc và rủi ro về quyền riêng tư trên các trang mạng xã hội. Rủi ro liên hệ được đánh giá khi thêm những người mà họ chưa từng gặp vào danh sách bạn bè của họ. Việc cha mẹ cố gắng sử dụng các phương pháp kiểm soát hạn chế đã phản tác dụng trong việc giảm thiểu rủi ro, trong khi các chiến thuật dựa trên thảo luận lại giúp giảm thiểu rủi ro khi tiếp xúc. Tuy nhiên, thảo luận với các đồng nghiệp dường như làm tăng rủi ro về quyền riêng tư. Một nghiên cứu khác ở Singapore về trẻ vị thành niên phạm tội trong độ tuổi 13-18 đang được tư vấn hoặc phục hồi chức năng. Hầu hết đều sử dụng Facebook như một trang để trò chuyện, đăng và bình luận về các cập nhật trạng thái. Họ rất thích đưa ra và nhận được sự khẳng định ngang hàng trên trang web này. Nhiều người trong số những trẻ vị thành niên này đang cố gắng thực hiện hành vi phạm pháp của mình. Nhưng một khía cạnh đáng tiếc trong việc sử dụng Facebook của trẻ, được đưa ra trong các cuộc phỏng vấn, là lượng người theo dõi online có thể khiến quá trình này trở nên khó khăn hơn. Có những áp lực để thể hiện lòng trung thành của nhóm và tán thành các hành vi phạm pháp. Tuy nhiên, một số đã sử dụng Facebook để báo hiệu một sự thay đổi:

Vâng, thông qua bài đăng của tôi… như tôi nói, ‘Tôi phát ốm và mệt mỏi với cuộc sống này. Tôi chỉ muốn thay đổi ‘.

Người phạm tội trong độ tuổi vị thành niên và cả đời

Terrie Moffitt đã phân biệt giữa hành vi phạm tội liên tục ở tuổi vị thành niên và hành vi phạm tội dai dẳng. Một sự phân biệt tương tự đôi khi được gọi là người bắt đầu sớm và người bắt đầu muộn các hành vi phạm pháp. Ở tuổi nhi đồng, trẻ em có một con đường phát triển khá bình thường, nhưng có một số hành vi chống đối xã hội và phạm pháp, khi chúng bước vào tuổi dậy thì và trong khoảng cách đến trưởng thành, bị lôi kéo vào các hành vi liều lĩnh của các nhóm đồng lứa chống đối xã hội. Một số hành vi phạm pháp thể hiện quyền tự chủ và có địa vị với các bạn cùng lứa tuổi. Tuy nhiên, các hành vi phạm tội có xu hướng nhẹ và giảm dần khi đến tuổi trưởng thành. Khi bị xúc phạm dai dẳng, trẻ em hung hăng và gây rối ở trường tiểu học và trung học cơ sở, và thường bị bạn bè từ chối vào thời điểm đó. Tuy nhiên, ở trường trung học, trẻ liên kết với những người khác giống như mình và tạo thành cốt lõi của các nhóm đồng lứa chống đối xã hội. Trẻ phạm tội từ khi còn khá sớm thì có nhiều khả năng tái phạm. Những trẻ này ít bị ảnh hưởng bởi áp lực của bạn bè, nhưng lại có thể hoạt động như một nam châm đóng vai trò, thu hút những người đồng phạm ở độ tuổi vị thành niên trở thành đồng phạm. Không ai trong số những trẻ bị kết án đầu tiên sau 15 tuổi sau này xếp vào danh sách tội phạm nhiều lần.

Chấp nhận rủi ro, tuổi dậy thì và thay đổi não bộ

Quan điểm khoa học thần kinh tương đối mới cho thấy nguy cơ gia tăng liên quan đến những thay đổi của não ở tuổi thiếu niên. Có sự gia tăng nhạy cảm với sự từ chối của bạn bè, và cũng có sự thay đổi tạm thời trong cân bằng của việc tìm kiếm cảm giác trái ngược với sự kiểm soát hành vi. Trong một nghiên cứu ở Mỹ với khoảng 1.000 người tham gia từ 10 đến 30 tuổi, việc tìm kiếm cảm giác có liên quan đến quá trình trưởng thành ở tuổi dậy thì. Nó tăng ở khoảng tuổi 10 đến 15 tuổi, trước khi giảm. Ngược lại, kiểm soát hành vi thì không liên quan đến tuổi dậy thì và tăng đều đặn từ 10 tuổi trở đi.

Hơn nữa, sự hiện diện của bạn bè đồng trang lứa có thể tăng cường hành vi nguy cơ, đặc biệt là ở tuổi vị thành niên. Một nghiên cứu khác ở Mỹ sử dụng ba nhóm tuổi: vị thành niên (14-18), thanh niên (19-22) và người lớn (24-29). Họ được giao một nhiệm vụ lái xe mô phỏng với các nút giao thông. Đôi khi họ ở một mình, đôi khi họ được cho biết rằng những người bạn cùng lứa đang theo dõi qua màn hình. Các nhà nghiên cứu đã đo lường các quyết định rủi ro trong nhiệm vụ này. Khi ở một mình, không có nhiều khác biệt về mức độ chấp nhận rủi ro, nhưng khi được nói với những người bạn đồng lứa đang theo dõi, chỉ có vị thành niên cho thấy mức độ chấp nhận rủi ro tăng lên. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã đánh giá hoạt động của não bằng cách sử dụng quét fMRI. Trong điều kiện có quan sát đồng lứa, vị thành niên cho thấy hoạt động của não nhiều hơn ở các vùng nhạy cảm với phần thưởng của não, nhưng không có thay đổi trong các vùng kiểm soát hành vi. Trong các tình huống thực tế, phần thưởng có thể được thể hiện để đạt được địa vị với các bạn đồng lứa.

Quan điểm này cho thấy rằng các hành vi nguy cơ có thể được hiểu theo sự cân bằng của xung động cảm xúc và kiểm soát nhận thức, cộng với các yếu tố khác như nâng cao ảnh hưởng của bạn đồng lứa. Nhưng quan trọng là, nó không có nghĩa, trẻ vị thành niên thiếu hiểu biết về nhận thức những rủi ro liên quan.

Hai mô hình được so sánh

Đặc biệt tập trung vào hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên, Bruce Ellis và các đồng nghiệp vào năm 2012 đã so sánh hai mô hình giải thích. Đây là mô hình tâm sinh lý phát triển và mô hình tiến hóa. Cả hai mô hình đều thừa nhận ảnh hưởng của việc nuôi dạy con cái không tốt, sự bất hòa từ nhà trường, mối quan hệ với những người bạn cùng chí hướng và môi trường thiếu thốn. Nhưng mô hình tâm lý học phát triển cũng coi việc chấp nhận rủi ro là hành vi không thích hợp, một dấu hiệu cho thấy có điều gì đó không ổn trong quá trình phát triển. Điều này là do hậu quả của hành vi rủi ro đối với bản thân và những người khác.

Tuy nhiên, sự nhấn mạnh hoàn toàn vào hậu quả thì bỏ qua sự cân bằng của các lợi ích có thể có. Tất cả chúng ta đều chấp nhận một số rủi ro, và chúng ta cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn với hậu quả. Điều này tất nhiên phù hợp với lý thuyết kiểm soát xã hội. Nếu bạn có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình hoặc trường học, thì lợi ích ngắn hạn của việc ăn cắp từ một cửa hàng sẽ ít hơn rất nhiều bởi cái giá phải trả lâu hơn là bị phụ huynh phạt và có thể bị đuổi học. Tuy nhiên, nếu bạn không có mối quan hệ chặt chẽ như vậy, cán cân hậu quả-lợi ích có thể thay đổi. Ellis và các đồng nghiệp đã đề xuất mô hình tiến hóa, lấy những hiểu biết sâu sắc từ thuyết tiến hóa, mà chúng ta xem xét ở bài đầu. Họ gợi ý rằng quan điểm như vậy cung cấp năm hiểu biết chính. Đầu tiên, tuổi vị thành niên là thời kỳ thiết lập địa vị trong nhóm đồng lứa và cuối cùng là thành công trong sinh sản. Xu hướng cạnh tranh gia tăng. Những hành vi rủi ro như lăng nhăng tình dục có thể có lợi khi tìm hiểu về sở thích và mong muốn của người bạn đời của bạn. Thứ hai, các hành vi nguy hiểm và hung hăng như bắt nạt có thể giúp có được nguồn lực và nâng cao vị thế. Thứ ba, tỷ lệ hậu quả – lợi ích của các hành vi rủi ro sẽ thay đổi tùy thuộc vào môi trường hiện hành. Trong những môi trường không thể đoán trước và căng thẳng, một lợi ích ngắn hạn nhất định có thể được đánh giá cao hơn bất kỳ hậu quả dài hạn nào vì hình như nó có thể không bao giờ phát sinh. Thứ tư, lý thuyết lựa chọn giới tính dự đoán rằng nam giới có nhiều điều được, và mất ít hơn từ các hành vi nguy cơ. Thứ năm, so với môi trường thích nghi với tiến hóa, trẻ vị thành niên đương đại nằm trong các nhóm lớn, cùng lứa tuổi có thể làm tăng các hành vi nguy cơ. Các nhóm đồng lứa tuổi hỗn hợp nhỏ hơn có thể cung cấp một bối cảnh tự nhiên hơn và một bối cảnh làm tăng các hành vi vì xã hội.

Không phải tất cả những hiểu biết này đều mới. Chắc chắn lý thuyết nâng cao danh tiếng không coi hành vi rủi ro là hành vi sai trái. Mô hình tiến hóa phù hợp với quan điểm khoa học thần kinh, nhưng tập trung vào các chức năng hơn là cơ chế (vào ‘tại sao’ chứ không phải ‘như thế nào’). Nó cung cấp một khung giải thích tổng thể và, giống như các lý thuyết khác, nó có ý nghĩa can thiệp.

Các biện pháp can thiệp

Ngay cả khi đôi khi thích ứng với cá nhân, việc chấp nhận rủi ro và phạm pháp ở tuổi vị thành niên, đặc biệt là khi có nhiều hành vi không thường xuyên hoặc nhỏ, đều có những hậu quả đáng kể cho xã hội. Các vụ tai nạn xe hơi, mang thai ngoài ý muốn, tội phạm vị thành niên như trộm cắp và hành hung cần được giảm thiểu càng nhiều càng tốt. Từ quan điểm lý thuyết kiểm soát xã hội, cải thiện kỹ năng nuôi dạy con cái và mối quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên, cung cấp một môi trường học đường được tổ chức tốt và khuyến khích, cũng như tham gia vào các hoạt động phát triển bản thân có hiệu quả sẽ là những bước quan trọng.

Những gì có thể không hữu ích là các chương trình đào tạo kỹ năng xã hội hoặc đào tạo đồng cảm, có thể không đạt mục tiêu. Những loại can thiệp dựa trên đồng lứa này có thể có những tác động được gọi là tác động tiêu cực, hoặc không mong muốn. Nếu những đứa trẻ chống đối xã hội được chọn tham gia vào một cuộc can thiệp dựa trên nhóm kiểu này, thì chúng thực sự có thể chia sẻ và củng cố giá trị của nhau. Như lý thuyết nâng cao danh tiếng sẽ gợi ý, họ có thể chọn nâng cao vị thế của mình trong nhóm mới này bằng cách tham gia vào các hành vi chống đối xã hội. Hậu quả này có thể lớn hơn bất kỳ lợi ích nào có thể có của chính chương trình đào tạo.

Quan điểm khoa học thần kinh cho rằng trẻ vị thành niên nhận thức được rủi ro nhưng khá bốc đồng, vì vậy các chiến lược để khiến việc thực hiện các hành vi chấp nhận rủi ro trở nên khó khăn hơn sẽ được khuyến nghị. Ví dụ có thể là điều chỉnh việc bán rượu bia, nâng độ tuổi lái xe hợp pháp và cải thiện khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai. Mô hình tiến hóa cũng lập luận rằng những lời khuyến khích và chương trình nâng cao nhận thức về rủi ro có thể phản tác dụng, vì chúng có thể làm tăng tình trạng của các hoạt động chấp nhận rủi ro. Bên cạnh việc giải quyết các điều kiện môi trường bất lợi khiến khả năng chấp nhận rủi ro cao hơn, nó chỉ ra sự cần thiết phải cung cấp các lộ trình thay thế cho trẻ vị thành niên để duy trì danh tiếng với nhóm bạn cùng trang lứa. Trẻ vẫn cần nâng cao vị thế, nhưng không quá rủi ro cho bản thân hoặc có khả năng gây hại cho người khác; tham gia thể thao có thể là một trong những ví dụ như vậy.

Khoa học thần kinh

https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/du-hoc/9x-gianh-hoc-bong-dh-khai-phong-my-sau-3-nam-gap-years-736293.html

Bài viết trên chỉ nhằm mục tiêu ca ngợi một bạn trẻ với kết quả đạt được học bổng của bạn ấy. Nhưng với tôi, bài viết này có ý nghĩa khi nhắc tới tới một ngành học bậc đại học- ngành khoa học thần kinh. (P/s: tôi không hiểu tiêu đề, đoạn 3 năm “gap years”- bạn trẻ này đã đi học và học năm 3 y khoa nên việc hiểu về khoa học thần kinh có ý nghĩa khác biệt chứ- nhưng chắc đó là việc của các trung tâm tư vấn du học).

Trong 4 năm vừa qua, tôi đã một lần nữa, thay đổi nội dung làm việc của mình, từ việc tập trung vào nguyên lý tâm lý học, sang một nguyên lý đa ngành, mà tôi bao hàm trong đó: tâm lý lâm sàng, tâm thần, thần kinh, phục hồi chức năng, y học cổ truyền. Và từ đó, tôi buộc phải đi sâu về tâm lý học và thần kinh học, phát hiện mối liên quan bản chất, là cơ sở cho hoạt động đa ngành mà vì thế, blog này được lập ra.

Bài viết này được soạn theo lời phát biểu của Eric R. Kandel, Thomas M. Jessell, Steven A. Siegelbaum và A. J. Hudspeth về khoa học thần kinh năm 2013.

Mục tiêu cuối cùng của khoa học thần kinh là hiểu được cách thức mà tín hiệu điện, thông qua các mạch thần kinh, hình thành trong tâm trí – đối với cách chúng ta nhận thức, hành động, suy nghĩ, học hỏi và ghi nhớ- nghĩa là những chức năng tâm lý, chứ không phải sinh lý như trước kia chúng ta nói về thần kinh học. Mặc dù chúng ta vẫn còn nhiều thập kỷ nữa mới đạt được mức độ hiểu biết này, nhưng các nhà khoa học thần kinh đã đạt được những tiến bộ đáng kể khi hiểu sâu hơn về các cơ chế thần kinh cơ bản, đầu ra có thể quan sát được, của hệ thần kinh đối với con người và các sinh vật khác. Chúng ta cũng đang bắt đầu hiểu về các rối loạn hành vi liên quan đến bệnh thần kinh và tâm thần. Hành vi có thể được kiểm tra về hoạt động điện, của cả neuron riêng lẻ và hệ thống các neuron bằng cách tìm kiếm câu trả lời cho năm câu hỏi cơ bản. Làm thế nào để các neuron trong não giao tiếp với nhau? Làm thế nào các vấn đề khác nhau của sự kết nối (tại synap) lại làm phát sinh các nhận thức và hành vi vận động khác nhau? Sự giao tiếp giữa các tế bào thần kinh được thay đổi như thế nào theo trải nghiệm cuộc sống? Giao tiếp đó bị thay đổi như thế nào do bệnh tật?

Vào những năm 1970, những câu hỏi này chỉ có thể được giải quyết trong các phần của sinh học tế bào. Nhưng đến những năm 1990- 2000, các vấn đề tương tự đã được nghiên cứu ở cấp độ phân tử. Từ đó đến nay, sinh học phân tử đã tiếp tục khai sáng việc phân tích các vấn đề sinh học thần kinh. Sinh học phân tử đã cho phép khám phá cơ chế bệnh sinh của nhiều bệnh thần kinh, bao gồm một số rối loạn di truyền nghiêm trọng: loạn dưỡng cơ, u nguyên bào võng mạc, u sợi thần kinh, bệnh Huntington và một số dạng bệnh Alzheimer. Sinh học phân tử cũng đã mở rộng hiểu biết của chúng ta về cách bộ não phát triển. Giun, ruồi và chuột biến đổi gen, giúp chúng ta xem xét các gen đơn lẻ, bao gồm các gen đột biến gây ra bệnh thần kinh, với tín hiệu trong các neuron và hành vi của một sinh vật. Đồng thời, các công cụ phân tử và quang học mới đã cho phép chúng ta quan sát hình ảnh hoạt động của các neuron riêng lẻ trong bộ não nguyên vẹn, cũng như điều khiển hoạt động điện của các neuron và mạch thần kinh để thay đổi hành vi. Những thí nghiệm như vậy đã giúp chúng ta có thể kiểm tra động lực học phân tử của các neuron trong các mạch chịu trách nhiệm cho các quá trình nhận thức.

Mỗi bệnh ảnh hưởng đến hệ thần kinh đều có một số thành phần di truyền. Giờ đây, 20.000 gen của bộ gen người đã được giải trình tự, có thể xác định gen nào khiến chúng ta dễ mắc các chứng rối loạn nhất định và do đó có thể dự đoán khuynh hướng mắc bệnh cụ thể của một cá nhân. Kiến thức về bộ gen của con người đang bắt đầu biến đổi việc thực hành y học. Việc quét bộ gen cá nhân có thể xác định được nguy cơ cá nhân đối với các rối loạn thần kinh và tâm thần ở mức độ ngày càng chi tiết và đầy đủ. Do đó, ngày càng rõ ràng rằng nền tảng của thần kinh học lâm sàng, phục hồi chức năng vận động và tâm thần học- ngành y khoa, tâm lý lâm sàng, ngôn ngữ trị liệu- ngành thuộc phạm vi chăm sóc sức khỏe, phụ thuộc nhiều vào sự tiến bộ của khoa học thần kinh.

Bất chấp sức mạnh của sinh học phân tử trong việc làm sáng tỏ các cơ chế phân tử của chức năng thần kinh và bệnh tật, bất kỳ sự hiểu biết chi tiết nào về cách các tế bào thần kinh hoạt động để tạo ra các hành vi phức tạp đều đòi hỏi phải phân tích mạch mà các tế bào thần kinh tham gia. Do đó, các câu hỏi quan trọng trong khoa học thần kinh bao gồm: Các tổ hợp tế bào thần kinh được hình thành như thế nào trong quá trình phát triển? Các tính toán được thực hiện bởi các mạch thần kinh đó là gì và hoạt động này tạo ra hành vi như thế nào? Các mạch thay đổi như thế nào trong quá trình học tập và ghi nhớ? Những thay đổi nào trong các mạch thần kinh gây ra bệnh thần kinh và tâm thần? Như vậy, những kiến ​​thức về chức năng của các tổ hợp tế bào thần kinh trong các mạch xác định phải đạt được để vươn đến một khoa học thần kinh nhận thức toàn diện.

Để hiểu cách chúng ta nhận thức, hành động, suy nghĩ, học hỏi và ghi nhớ, chúng ta phải xem xét các phương pháp tiếp cận và sơ đồ khái niệm mới để hiểu hành vi của các hệ thống bao gồm từ các neuron đơn lẻ đến nền tảng của nhận thức (từ cấu trúc giải phẫu đến chức năng sinh lý và tâm lý). Kết quả là, chúng ta phải xem xét đầy đủ hơn về cách các chức năng nhận thức và hành vi của hệ thống cảm giác và vận động, mở rộng việc xử lý các quá trình nhận thức, và đưa vào cuộc thảo luận của chúng ta sức mạnh và tầm quan trọng ngày càng tăng của khoa học thần kinh số hóa. Khả năng ghi lại hoạt động điện và xử lý số hóa những thay đổi chức năng trong não, trong quá trình hoạt động trí óc bình thường và bất thường, cho phép nghiên cứu trực tiếp các quá trình nhận thức phức tạp. Chúng ta không còn bị ràng buộc bởi sự đơn giản là suy ra các chức năng tâm trí từ hành vi có thể quan sát được. Thật vậy, một sự đánh giá mới đối với cái nhìn ban đầu của Freud về tầm quan trọng của các quá trình vô thức — một trong những chủ đề xuất hiện ban đầu trong khoa học thần kinh nhận thức — nhấn mạnh lại hạn chế lớn của việc phân tích của chúng ta là về nội tâm và đưa đến những hành vi có thể quan sát được. Nhờ sự tiến bộ trong việc mô tả các quá trình tâm lý vô thức, khoa học thần kinh có thể sớm phát triển các công cụ cần thiết để khám phá những bí ẩn sinh học sâu nhất — cơ sở sinh học của ý thức và ý chí tự do.

Những quan điểm về các tiến trình tâm lý trước đây, thậm chí, đang tỏ ra không đầy đủ trong thế kỷ 21. Một ví dụ cụ thể, chúng ta cảm nhận rằng chúng ta nhận thức được đối tượng trước khi tương tác với nó và do đó chúng ta hoàn toàn mong đợi rằng bộ não hoạt động trong theo cách tuần tự này. Các nghiên cứu ở mức độ cao nhất chỉ ra rằng ở cấp độ cao nhất, hệ thống vận động và cảm giác hoạt động song song, không theo chuỗi, và hệ thống vận động có khả năng nhận thức đáng kể.

Kết quả của sự tiến bộ này, việc viết phần giới thiệu mạch lạc về hệ thần kinh đối với sinh viên đang theo học hành vi, sinh học và y học trở nên dễ dàng hơn. Ngày nay sinh học thần kinh là trung tâm của khoa học sinh học – và thực sự đối với khoa học nói chung. Sinh viên sinh học ngày càng muốn làm quen với khoa học thần kinh, và hầu hết sinh viên tâm lý học coi mình đang nghiên cứu cơ sở sinh học của hành vi. Đồng thời, tiến bộ trong khoa học thần kinh đang cung cấp hướng dẫn rõ ràng hơn cho các bác sĩ lâm sàng, đặc biệt là trong điều trị các rối loạn tâm thần. Trên thực tế, có lẽ sự thay đổi đáng kể nhất trong bối cảnh lâm sàng đầu thế kỉ 21 này là, nhận thức rằng tâm thần học có thể là một khoa học thần kinh lâm sàng, rằng tiến bộ của liệu pháp tâm lý có thể được đánh giá định lượng bằng hình ảnh não. Do đó, chúng tôi tin rằng điều đặc biệt quan trọng là phải làm rõ các nguyên tắc và cơ chế chính điều chỉnh các chức năng của hệ thần kinh đối với sức khỏe và bệnh tật mà không bị mất chi tiết.

Bằng cách kết hợp sinh học phân tử, sinh lý học thần kinh, giải phẫu học, sinh học phát triển và sinh học tế bào với nghiên cứu nhận thức, cảm xúc và hành vi ở động vật và con người, qua các công nghệ hình ảnh tiên tiến, khoa học thần kinh hiện đại đã tạo ra một khoa học mới về tâm trí. Cùng với quan sát lâm sàng sắc sảo, khoa học thần kinh hiện đại đã củng cố ý tưởng đầu tiên được đề xuất bởi Hippocrates cách đây hơn hai thiên niên kỷ rằng nghiên cứu đúng đắn về tâm trí bắt đầu bằng nghiên cứu về não bộ. Đến lượt mình, tâm lý học nhận thức đã nhấn mạnh đến tính đa dạng và phức tạp của trải nghiệm tinh thần của con người. Bằng cách nhấn mạnh cấu trúc tinh thần chức năng và biểu diễn bên trong, tâm lý học nhận thức đã nhấn mạnh tính logic của các hoạt động tinh thần và của các biểu hiện bên trong. Tâm lý học nhận thức thực nghiệm và liệu pháp tâm lý lâm sàng hiện có thể được củng cố bằng những hiểu biết sâu sắc về khoa học thần kinh về hành vi và bằng cách hình ảnh các quá trình tâm thần đang hoạt động trong thời gian thực. Chúng ta một lần nữa hy vọng sẽ khuyến khích thế hệ sinh viên đại học, sau đại học và y khoa tiếp theo, tiếp cận nghiên cứu về hành vi theo cách hợp nhất các khía cạnh sinh học và xã hội của nó. Nhiệm vụ trong những năm tới là tạo ra một nghiên cứu về các quá trình tinh thần, dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học thần kinh thực nghiệm, nhưng vẫn quan tâm đầy đủ đến các vấn đề về cách tạo ra các biểu diễn và trạng thái bên trong tâm trí.

Từ xa xưa, hiểu biết đối nhân xử thế đã là trọng tâm của các nền văn hóa văn minh. Được khắc trên lối vào của Đền thờ Apollo ở Delphi là câu châm ngôn nổi tiếng “Biết chính mình”. Và biên giới của những hiểu biết này vẫn đang đi ra xa chúng ta, thúc đẩy chúng ta đi tiếp, và dường như chưa có điểm dừng.