Trích dịch Beneath the Mask, Bên dưới Mặt nạ, phiên bản 7th, của Christopher F. Monte & Robert N. Sollod.
Thuật ngữ nhân cách/ personality trong tiếng Anh, cá tính/ personalite trong tiếng Pháp và tính cách/ personlichkeit trong tiếng Đức, đều gần với từ tính cách personalitas của tiếng Latinh trung cổ. Trong tiếng La tinh cổ chỉ từ persona được sử dụng. Tất cả các học giả đều đồng ý rằng từ này ban đầu có nghĩa là mặt nạ. Những từ này được viết bởi nhà tâm lý học người Mỹ, Gordon Allport (Allport, 1961 trang 25)
Allport còn truy tìm thêm ý nghĩa của thuật ngữ persona với một cụm từ thậm chí còn sớm hơn, bằng tiếng Latinh, per sonare, có nghĩa là phát ra âm thanh. Cụm từ per sonare, hay theo nghĩa đen, là tạo ra âm thanh xuyên qua, dùng để chỉ ống ngậm của mặt nạ sân khấu mà qua đó giọng nói của diễn viên được phát ra. Những ý nghĩa tiếp theo được Allport trích dẫn chứng minh rằng ý nghĩa của thuật ngữ nhân cách dần dần phát triển thành một chỉ định trừu tượng hơn cho thấy vẻ ngoài của chiếc mặt nạ và cũng đề cập đến con người bên dưới nó (Allport 1961). Ẩn dụ mặt nạ thường xuyên xuất hiện trong các lý thuyết về nhân cách và là chủ đề chính trong cuốn sách này. Allport đã lưu ý sự khác biệt giữa cách tiếp cận nhân cách của ông và cách tiếp cận của Freud.
…Freud dùng từ tính cách/ character… không phải nhân cách. Và hầu hết người Châu Âu thích từ tính cách hơn (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là chạm khắc hoặc dấu ấn, ám chỉ điều gì đó bên trong vĩnh viễn và bẩm sinh). Ngược lại người Mỹ lại thích từ nhân cách hơn… từ này…bắt nguồn từ persona hay mặt nạ. Do đó cách tiếp cận điển hình của người Mỹ đặt sự chú trọng tương đối nhiều hơn vào sự tương tác xã hội về bề ngoài và sự tiếp xúc với thế giới, trong khi tính cách của người Châu Âu nhấn mạnh hơn đến sự khắc sâu bên trong, “dấu ấn”, như là định mệnh. Do đó, Freud cho rằng các hướng dẫn của tính cách được đặt theo độ tuổi đến ba hoặc năm tùy trường hợp. Trong mọi trường hợp có một cảm giác khác nhau về hai thuật ngữ tính cách và nhân cách… (Allport, 1962 trang 1)
Năm 2011 hoặc 2012, tôi không nhớ chính xác nữa, tôi có tham gia một lớp học về tâm lý học ở bệnh viện Tâm thần tỉnh Khánh Hòa, do một đôi vợ chồng người Pháp giảng dạy. Sự mơ hồ của chính tôi về phân tâm học, về vấn đề biểu tượng trong các phân tích tâm lý theo trường phái này khiến cho việc đọc cuốn sách Beneath the Mask, Bên dưới Mặt nạ, phiên bản 7th, quà tặng của anh Đặng Duy Thanh, Giám đốc bệnh viện, trở nên một thách thức kiểu như leo đỉnh Everest vậy. Xuân 2024 này tôi mới có can đảm mở cuốn sách để đọc. Vô cùng cảm ơn anh Thanh về món quà tinh thần vô giá này.
Ngay từ lời giới thiệu cuốn sách, của đồng tác giả, Giáo sư Tâm lý học Robert N. Sollod, tôi đã học được một bài học rất quan trọng, một trong kiến thức rất căn bản của việc tiếp cận Tâm lý học hiện đại nói chung và Tâm lý học Nhân cách nói riêng, đó là ý nghĩa của các thường nghiệm. Các bác sĩ Việt Nam ít xem trọng các mô tả ca lâm sàng như là một khởi đầu của của vấn đề lý thuyết. Đó không phải là một cách tư duy đúng. Và bài học từ ngành Tâm lý học không thể bị xem như là một lĩnh vực không có gì liên quan.
Chúng ta thử xem đoạn viết ngắn này nhé.
Bản chất con người từ lâu đã là một vấn đề gây tò mò và quan tâm lớn. Người ta luôn muốn có thể hiểu và dự đoán hành vi của người khác. Nhà sinh vật học và là nhà văn, từng đoạt giải thưởng Pulitzer, Edward O. Wilson đã đặt ra thuật ngữ biophilia để chỉ tình yêu và niềm đam mê của con người đối với cuộc sống xung quanh chúng ta. Sự quan tâm và chăm sóc của chúng ta đến cuộc sống của người khác còn lớn lao hơn biết bao.
Cho đến những năm 1900, việc tích lũy và truyền đạt sự hiểu biết về bản chất của con người được giao cho các triết gia, nhà văn và nhà sử học. Những người có học thức này cố gắng tìm hiểu bản chất con người, không chỉ thông qua kinh nghiệm cá nhân, mà còn bằng cách nghiên cứu Plutarch, Plato, Baruch Spinoza và Arthur Schopenhauer, đọc William Shakespeare và Charles Dicken, và nghiên cứu cuộc đời của các nhân vật lịch sử khác. Những kiến thức như vậy, với chiều sâu của nó và cách hiểu, không cung cấp bất kỳ cách thức nào về hệ thống hoặc cách kiểm chứng cho việc nhìn vào bản tính tự nhiên của con người.
Với sự ra đời của tâm lý học hiện đại, những cách thức mới để cố gắng hiểu bản chất của con người đã trở nên quan trọng. Những lý thuyết lớn về nhân cách mà chúng ta đang nghiên cứu ở đây là kết quả của nỗ lực trong thế kỷ qua nhằm khám phá và hình thành những hiểu biết mới về nhân cách. Những lý thuyết vĩ đại này tiêu biểu cho sự phát triển tương đối gần đây của nhân loại trong việc tìm hiểu nhân cách và bản chất của con người. Chúng cung cấp những hiểu biết thú vị có ảnh hưởng đến cách chúng ta trải nghiệm cuộc sống cũng như suy nghĩ và hành vi của chúng ta.
Giới thiệu Bên dưới Mặt nạ
Các lý thuyết về nhân cách là những mô hình tâm lý về bản chất con người, với tần suất đáng ngạc nhiên, phản ánh bản chất của người tạo ra chúng. Bên dưới Mặt nạ trình bày những lý thuyết cổ điển về bản chất con người, giống như cách mà mỗi nhà lý thuyết có thể làm, nếu nhà lý thuyết đó dạy ý tưởng của mình cho người mà đó lần đầu tiên tiếp xúc với chúng. Sự phát triển ý tưởng của nhà lý thuyết được chú trọng hơn, vì trình tự suy nghĩ của nhà lý thuyết và những thay đổi thể hiện trong dòng ý tưởng theo thời gian thường hấp dẫn và có giá trị hơn sản phẩm cuối cùng. Chúng tôi dự định giúp người đọc có thể đi trực tiếp từ phần mô tả lý thuyết trong Bên dưới Mặt nạ đến tác phẩm của chính nhà lý thuyết đó, mà không bị mất phương hướng do học các ý tưởng theo hình thức sách giáo khoa được lĩnh hội trước.
Một cách tiếp cận thông cảm đối với các lý thuyết về nhân cách không phải là mới. Điều làm cho 7 ấn bản Bên dưới Mặt nạ trở nên độc đáo là việc tiếp tục nhấn mạnh vào việc trình bày các ý tưởng của các nhà lý thuyết về nhân cách theo một cách phát triển. Việc giải thích sự phát triển của lý thuyết nhân cách nhất thiết phải kết hợp nguồn gốc cá nhân của các ý tưởng để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa tâm lý của mỗi lý luận và tâm lý con người của chính nhà lý thuyết đó.
Để hoàn thiện và nhất quán, một cách tiếp cận mang tính chất phát triển đối với các lý thuyết về nhân cách đòi hỏi một số khám phá về lịch sử cá nhân, xung đột và ý định của nhà lý thuyết mà đã ảnh hưởng đến chân dung con người của nhà lý thuyết đó như thế nào. Bên dưới Mặt nạ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu các nguồn thông tin cá nhân này ngay từ ấn bản đầu tiên. Kinh nghiệm kiểu lớp học với cách tiếp cận này là nó không chỉ dẫn đến sự hiểu biết đầy đủ hơn về các lý thuyết mà còn khiến chúng dễ nhớ bằng cách mở rộng chúng theo tỷ lệ của con người. Nói cách khác, Bên dưới Mặt nạ cho thấy cách suy nghĩ dẫn đến các lý thuyết chính, được lồng vào kinh nghiệm sống của các nhà lý thuyết trong bối cảnh văn hóa vây xung quanh. Trong một số trường hợp chúng tôi nhận ra rằng các lý thuyết được trình bày đã tạo ra những giải pháp cho những khó khăn mà các nhà lý thuyết trải nghiệm.
Một hệ quả của cách tiếp cận phát triển trong đào tạo về các lý thuyết nhân cách là hiệu quả của việc quy giản các lý thuyết phức tạp thành những tóm tắt ngắn gọn về các nguyên tắc cơ bản sẽ bị mất đi. Đạt được là nhiệm vụ tốn nhiều thời gian hơn nhưng thú vị hơn khi theo dõi quá trình sáng tạo của nhà lý thuyết với nhiều sai sót của nó, đặt ra những câu hỏi cá nhân nhức nhối, và người ta hi vọng sẽ có được giải pháp cuối cùng. Có một điểm quan trọng trong cách tiếp cận này. Quan sát quá trình tư duy của người đưa ra ý tưởng là một ứng dụng trong nhận thức. Đôi khi hoàn toàn không nhận thức được mình đang làm như vậy, người đọc tự suy luận một cách quy nạp để giải quyết vấn đề như nhà lý thuyết, mà họ đang tìm hiểu, được cho là đã làm, hoặc họ suy luận ra các câu hỏi, xem những điểm bất thường hoặc khám phá những ngoại lệ của một lý thuyết mới theo cách mà một nhà lý thuyết đã nghiên cứu trước đó có thể đã làm. Sự chú ý suy nghĩ về các vấn đề tâm lý cùng với những sai sót và những thay đổi tuần tự của nó dạy cho ta tư duy tâm lý.
… Sau một thời gian, điều mà người học sẽ thấy sức mạnh trí tuệ của mình đã tăng lên nhờ nghiên cứu tâm trí của thầy mình. Nhưng trong tất cả những tâm trí không cân bằng, sự phân loại được thần tượng hóa, được coi là mục đích cuối cùng, chứ không phải là một phương tiện có thể cạn kiệt nhanh chóng, đến nỗi trước mắt họ, những bức tường của hệ thống hòa quyện vào nhau ở chân trời xa xôi với những bức tường của vũ trụ… Ralph Waldo Emerson
Theo sách Giải phẫu người của Đại học Y Hà Nội, 2020, trang 337, thì phản xạ tủy (phản xạ bẩm sinh) là
Những tiếp nối giữa các neuron cảm giác ở hạch rễ sau với các neuron vận động của tủy sống, là cơ sở của các phản xạ tủy, trong đó có phản xạ kéo giãn cơ (stretch reflex) và phản xạ cơ gấp (flexor reflex).
Phản xạ kéo giãn là một cung phản xạ hai nơron, hay đơn synap. Kéo giãn nhẹ một cơ gây kích thích thoi cơ và kích thích này được neuron cảm giác ở hạch rễ sau (loại có nhánh trục lớn nhóm A) truyền vào tủy sống, tới kích thích các neuron vận động alpha làm cho cơ bị kéo giãn co lại. Đây là phản xạ quan trọng để duy trì tư thế. Thoi cơ là một thụ thể tinh tế, có thể cảm nhận được sự thay đổi về chiều dài của cơ và phản xạ kéo giãn là cách duy trì sự hằng định về chiều dài. Phản xạ kéo giãn được các bác sĩ lâm sàng sử dụng ở dạng các nghiệm pháp phản xạ giật gân hay phản xạ gân xương, bằng cách gõ búa phản xạ đột ngột lên gân để gây ra tình trạng giật gân đột ngột, kéo giãn thoi cơ. Giảm hoặc mất phản xạ gân xương chứng tỏ có bệnh lý ảnh hưởng đến hoặc neuron cảm giác hoặc nơron vận động của cung phản xạ. Tăng phản xạ cho thấy có sự mất ức chế của các dải đi xuống lên các neuron vận động.
Phản xạ cơ gấp là một phản xạ bảo vệ. Có thể thấy phản xạ này ở cử động rụt tay hay chân (gấp) khỏi một kích thích gây đau. Có ít nhất 3 nơron tham gia phản xạ này nên đây là một phản xạ đa synap. Nơron cảm giác ở hạch rễ sau chuyển những kích thích gây tổn thương từ những đầu tận cùng thần kinh ở da tới sừng sau tủy sống, tạo synap với các neuron trung gian, rồi qua neuron trung gian tới các neuron vận động alpha ở một số đốt tủy vì đáp ứng co cơ gấp, tức rụt tay lại, cần đến hoạt động của các nhóm cơ.
Nháy mắt là một chuyển động liên quan đến 2 cơ đối kháng, với 2 dây thần kinh chi phối (dây 3 với cơ nâng mi trên và dây 7 với cơ vòng mi).
Nháy mắt là một phản xạ không điều kiện (là dạng phản xạ tủy) với kích thích giác mạc (dây 5- với sự chuyển động của các luồng không khí qua mắt), xem ở đây và đây Có liên quan đến phản xạ giật mắt (saccade)
Nháy mắt là một phản xạ có điều kiện với các kích thích thị giác (nháy đèn) tuân theo phản xạ Pavlov- học tập kết hợp. Xem ở đây
Nháy mắt là hoạt động chuyển động 2 chu kì, với pha nhanh mang tính phản xạ tủy và pha chậm hơn có kiểm soát của ý thức. Xem ở đây
Trẻ sơ sinh chớp mắt khoảng 2 lần/ phút, còn người lớn khoảng 12-15 lần/phút.
Agility: Sự linh hoạt của giọng hát, ca sĩ có agility tốt có thể chạy note rất nhanh với độ tách note và sự chính xác về cao độ của note cao nhưng vẫn có thể đảm bảo độ mượt mà khi chuyển.
Airy: Chỉ sự mất hoặc thiếu kết nối của dây thanh quản dẫn tới không khí đi ra theo giọng hát một cách đáng kể.
Breath control: Sự điều khiển và điều tiết làn hơi phóng ra, việc này xảy ở phía trên thanh quản. Ở blog này, mục Overall assessment mục đánh giá Breath control bao gồm đánh giá Breath support và Breath control.
Breath support: Sự tương tác giữa các nhóm cơ để điều khiển luồn không khí và làm run dây thanh quản, việc này xảy ra phía dưới thanh quản.
Chest dominant: Thuật ngữ này dùng cho mixed voice (giọng pha) ám chỉ người ca sĩ pha giọng ngực nhiều hơn giọng đầu. Một số ca sĩ có thói quen dùng chest dominant mix như Whitney Houston hay Lara Fabian để tạo ra những note belting dày, mạnh, với độ kịch tính cao.
Chest voice: Giọng ngực, giọng có khoảng vang nằm ở ngực. Đây là giọng chúng ta dùng để nói chuyện bình thường.
Chest voice muscles: Còn gọi là thyroarytenoid muscles, là nhóm cơ trong thanh quản và tạo thành phần thân của vocal cord. Thyroarytenoid muscles đóng một vai trò rất quan trọng trong điều chỉnh những âm thanh có tần số thấp, hay có thể hiểu là quãng giọng ngực của giọng hát.
Chesty: Như chest dominant, nhưng thường mang nghĩa xấu.
Closed throat: Chỉ việc ca sĩ với kỹ thuật thanh nhạc không phù hợp khiến cho các cơ cổ không có được sự thoải mái kèm theo vùng không gian ở yết hầu không được nới rộng, gây nên hiện tượng strain, high larynx,…
Consistency: Khả năng của người ca sĩ có thể sử dụng kỹ thuật thanh nhạc mình có để tạo ra những màn trình diễn có chất lượng kỹ thuật không chênh lệch quá nhiều. Consistency cũng dùng để chỉ tính chất giọng hát, nghe chắc chắn, không bị rung rẩy hay mất ổn định.
Dynamic: Độ mạnh, lớn và rền của giọng hát.
Falsetto: Hay còn gọi là giọng gió, là một disconnected register (bên cạnh vocal fry và whistle),do mất kết nối dây thanh quản và breath control kém, âm thanh thường airy và không rõ ràng như head voice. Falsetto được hình thành khi vocal fold được kéo dài và rung động để tạo ra âm thanh nhưng chúng không chạm nhau một cách hoàn toàn (khác với head voice phần trên của vocal fold đóng lại chỉ chừa một phần nhỏ, đó chính là nơi vocal rung động tạo ra âm thanh). Người hát falsetto sẽ gặp khó khăn khi học mixed voice, và khó điều chỉnh dynamic. Có một lưu ý là falsetto cũng như whistle là một disconnected register nên nó không có placement, dĩ nhiên là thỉnh thoảng các vocalist cũng có thể có phần nào masked-placed fasetto hoặc head-placed fasettto nhưng độ rõ ràng của placement không thể nào bằng head voice hoặc các connected register khác.
Glissando: Là một kỹ thuật khó của Bel canto. nghĩa là “glide”.Chỉ cách hát lướt note (thường là 2 note) trong một làn hơi. Mục đích dùng để nhấn mạnh note, tăng tích “dramatic” cho bài hát
Glotta tension: Tension xuất hiện ở phần thanh hầu, xảy ra do phần thanh hầu không được nới rộng đúng cách khi hát. Glotta tension có thể đi kèm với throat tension thường và xảy ra ở những vocalist hát với closed throat.
Flat: Từ dùng để chỉ cao độ, trái nghĩa với sharp, chỉ việc người ca sĩ hát hơi thấp hơn so với note gốc của bài hát.
Head dominant: Thuật ngữ này dùng cho mixed voice (giọng pha) ám chỉ người ca sĩ pha head voice nhiều hơn chest voice. Một số ca sĩ có khả năng sử dụng mixed voice thành thục có thể chuyển sang head dominant mix ở một số note để tạo thành light mixed voice, kỹ thuật khá quan trọng được sử dụng trong việc biểu đạt cảm xúc bài hát.
Head voice: Giọng đầu, một số gọi là giọng óc. Là giọng có khoảng vang ở vùng đầu, người ca sĩ biết cách kết nối vocal cord cũng như kỹ năng muscle coordination nếu không sẽ dễ bị chuyển thành falsetto. Head voice có thể place ở nhiều nơi, thường thì ở phần đỉnh trán, xoang mặt, một số lại có thể chuyển phần nào xuống ngực.
Head voice muscles: Còn gọi là cricothyroid muscles, là nhóm cơ nằm phía ngoài thanh quản. Nhóm cơ này chịu trách nhiệm điều khiển những âm thanh có tần số cao hay là falsetto register. Lưu ý rằng một mình head voice muscles và chest voice muscles không thể tạo thành mixed voice và head voice. Mixed voice được tạo thành nhờ có sự tham gia theo tỉ lệ 5/5 hoặc 6/4 hoặc 7/3 của 2 nhóm cơ, trong khi head voice được tạo thành với tỉ lệ 9/1 hoặc 8/2 (phần nhiều hơn thuộc về head voice muscles).
Heady: như head dominant, nhưng thường mang nghĩa xấu.
High larynx: Còn gọi là cao thanh quản, thanh quản thường bị cao khi ca sĩ cố gắng một note cao với kỹ thuật thanh nhạc không phù hợp, một số ca sĩ ép thanh quản mình lên cao ngay cả quản trung để tạo ra âm sắc mỏng, nhẹ. Nguyên lý của high/low larynx như sau: Outer muscles thường thư giãn khi hát, nhưng khi vocal cord không có đủ air pressure để chạm nhau, outer muscles sẽ tham gia và tiến hành nâng/hạ thanh quản.
Intonation: Sự chính xác về cao độ khi hát.
Jaw tension: Chỉ việc ca sĩ sử dụng kỹ thuật không phù hợp khi hát gây áp lực lên hàm của mình.
Legato: Kỹ thuật hát liền tiếng, liền từ âm này sang âm kia, đây là một kỹ thuật cơ bản nhưng rất quan trọng trong thanh nhạc, người ca sĩ có legato tốt sẽ tạo được sự mềm mại và mượt mà trong giọng hát.
Low larynx: Còn gọi là thấp thanh quản, thanh quản thường bị thấp khi ca sĩ hát note thấp, một số ca sĩ cố tình hạ thanh quản để làm giọng dày và tối hơn. Tuy nhiên, hạ thanh quản sẽ làm ca sĩ khó có thể phát triển quãng trầm, tonality bị mất và vocal projection suy giảm đáng kể.
Melisma: Gần giống như vocal run.
Mixed voice: Là giọng trung gian giữa chest voice và head voice, người hát mixed voice tốt có thể hát note cao dễ dàng mà không làm tổn hại nhiều đến thanh quản.
Nasal: Giọng mũi, nguyên do chủ yếu của giọng mũi là do hàm ếch không nhấc lên hoặc nhấc lên quá thấp, nhiều khi giọng mũi cũng có thể xuất hiện do ca sĩ có breath control quá kém hoặc vocal placement ở mũi. Người hát giọng mũi âm sắc sẽ không vang, hơi nghẹt, không lột tả hết được vẻ đẹp trong giọng hát.
Neutral larynx: Là vị trí tốt nhất của thanh quản khi hát, thanh quản ở vị trí thư giãn, không bị đẩy lên hay xuống. Hát với neutral larynx không những là cách tốt nhất để duy trì và bảo vệ giọng hát mà còn giúp cho người ca sĩ lên cao xuống thấp dễ dàng.
Note seperation: Dùng để chỉ sự phân tách và độ rõ ràng của note nhạc khi chạy một vocal run.
Open throat: Hiểu nôm na là mở cổ, chỉ việc người ca sĩ với hàm ếch được nhấc lên, các cơ cổ relax, neutral larynx, không gian ở vùng yết hầu nới rộng và có thể tạo được resonance tối ưu trong giọng hát.
Passaggio: Là một thuật ngữ quen thuộc trong thanh nhạc, gọi nôm na là điểm chuyển, là nơi chuyển giữa các register. Số lượng của passaggio ở giọng nam và nữ vẫn còn nhiều tranh cãi, theo lý thuyết thì có 3 passaggio là Primo passaggio, Secondo passaggio, và Zona di passaggio (Richard Miller), nhưng hiện tại thì chỉ có 2 passaggio đầu là được công nhận. Bạn có thể theo link sau để tìm hiểu thêm: https://en.wikipedia.org/wiki/Passaggio
Portamento: Là một kỹ thuật khó của Bel canto. Nghĩa là “carry”. Chỉ việc lướt qua một chùm note như thực hiện vocal run nhưng khác ở chỗ tốc độ nhanh hơn và sự phân tách giữa các note không rõ ràng lắm, tuy nhiên vẫn giữ được cao độ đúng của các note nhạc. Khác với glissando, portamento chỉ là hiệu ứng nhẹ và sử dụng chủ yếu tạo màu sắc cho bài hát.
Pianissimo: Là một kỹ thuật khó trong thanh nhạc, người ca sĩ làm giảm âm lượng đột ngột tạo ra âm thanh mỏng và nhẹ nhưng vẫn duy trì ở một note nhạc nào đó.
Pitchy: thiếu chuẩn xác về cao độ khi hát.
Placement: Nôm na là vị trí đặt âm thanh, nơi tập trung âm thanh khi hát, làm định hướng cho việc hướng âm khi hát. Nơi đặt vị trí âm thanh tốt nhất là ở xoang mặt, các nơi khác như cổ, mũi, hàm đều có thể gây căng thẳng và khiến cho support đúng nghĩa không xuất hiện. Tuy nhiên, người ca sĩ có thể kết hợp 2 vị trí đặt âm cùng lúc ví dụ như lúc hát trầm vocal placement nên ở xoang mặt và ngực, còn light mix thì ở xoang mặt và đỉnh trán.
Projection: Hiểu nôm na là sự “phóng âm thanh”, chỉ người ca sĩ với kỹ thuật thanh nhạc phù hợp có thể làm cho giọng hát nghe thoát ra, âm sắc rõ ràng và có độ bao trùm, không bị nghẹt, tù, bí.
Push: Là một thói quen xấu khi hát, chỉ việc người ca sĩ tống một lượng lớn không khi qua dây thanh quản cho âm thanh nghe tight và thiếu freedom. Lỗi này thường xuất hiện khi hát note cao.
Register: Khoảng âm, âm khu, con người có 4 quãng âm: Vocal fry register (rất trầm), Modal voice register (quãng âm thông thường, được dùng chủ yếu trong hát và nói), Falsetto register (giọng gió), Whistle register (giọng sáo)
Relax(ed) – Relax(ing): Chỉ sự thư giãn của các cơ cổ hay của âm thanh khi hát của các sĩ.
Resonance: Hay còn gọi là cộng hưởng, được xem là “chiếc chìa khóa vàng khi belt note cao”, chỉ người ca sĩ với kỹ thuật thanh nhạc phù hợp tạo ra một khối âm thanh vang, tròn trịa, relax, tự nhiên, không bị tối quá hoặc sáng quá so với màu giọng vốn có.
Run: (Cũng như vocal run) Chạy một hoặc nhiều note trong một khoảng thời gian ngắn.
Sharp: Từ dùng để chỉ cao độ, chỉ việc người ca sĩ hát hơi cao hơn so với note gốc của bài hát.
Shouty: Là một lỗi thường gặp khi hát note cao, chỉ việc người ca sĩ strained quá nhiều cộng thêm sự mất support, push,… dẫn đến note cao âm thanh như tiếng hét. Nhiều lúc do sự thiếu breath support của ca sĩ cũng có thể dẫn đến hiện tượng shouty.
Soft palate: Vòm miệng mềm, nếu bạn đưa lưỡi chạm lên trên vòm miệng, bạn sẽ thấy một phần hơi cứng, từ đó trượt lưỡi ngược về phía họng bạn sẽ chạm phần mô mềm, đó là soft palate. Người ca sĩ khi hát nếu không nhấc soft palate sẽ bị giọng mũi, giọng bị nghẹt, vocal projection kém.
Staccato: Hát nảy âm, là một kỹ thuật cơ bản trong thanh nhạc. Trái với legato, ca sĩ hát staccato phải có độ nảy và sự phân tách note phải rõ ràng.
Stamina: Sức chịu đựng của giọng hát. Nếu ca sĩ có khả năng có thể hát những note cao treo liên tục hay hát nhiều bài hát mà ít hoặc hoàn toàn không có dấu hiệu mệt mỏi đồng nghĩa với stamina tốt.
Strain: Trái nghĩa với relax, chỉ việc ca sĩ với kỹ thuật thanh nhạc không phù hợp dẫn đến tạo ra âm thanh rất căng thẳng, thiếu kiểm soát và làm tổn thương giọng hát.
Style: một sự lựa chọn khi hát của ca sĩ, có thể hiểu một người ca sĩ thường có xu hướng thiên về vocal technique hoặc style, nếu thiên về vocal technique ca sĩ thường chú trọng kỹ thuật khi hát, thường hay hát những bài hát khó, thực hiện nhiều kỹ thuật hoa mỹ và phức tạp trong thanh nhạc, nếu thiên về style người ca sĩ thường chú trọng đến cảm xúc, âm sắc, tạo điểm nhấn, hay tạo phong cách riêng trong giọng hát. Ca sĩ tốt là một ca sĩ phải biết cân bằng giữa vocal technique và style. Ca sĩ thiên về vocal technique tiêu biểu ở Việt Nam như Thu Minh, Dương Hoàng Yến, Hương Tràm, Hoàng Hải,… ca sĩ thiên về style như Sơn Tùng MTP, Thùy Chi, Đàm Vĩnh Hưng, Phương Thanh, các ca sĩ hát dân ca, bolero,…, ca sĩ cân bằng khá tốt giữa vocal technique và style như Trần Thu Hà, Tùng Dương, Mỹ Linh,…
Support: Chỉ việc ca sĩ sử dụng cơ hoành khi lấy hơi, breath control đầy đủ, vocal placement phù hợp, neutral larynx, nhấc soft palate,… để hát một hay một số note nhạc nào đó mà không bị strain và làm tổn thương giọng hát của người ca sĩ.
Supported range: Quãng mà người ca sĩ có thể support được trong quãng giọng của mình.
Tonality: Tone giọng, màu giọng. Trong blog thuật ngữ này dùng chỉ màu giọng gốc của ca sĩ.
Tight: Thường thấy khi ca sĩ hát quãng cao, chỉ sự thiếu thoải mái và gò bó của âm thanh, xảy ra do sự co thắt, bóp chặt của ít hay nhiều nhóm cơ cổ để ép vocal cords rung nhanh hơn. Tight thường kèm theo tension nhưng đôi khi tight xảy ra ngay cả trong những note có support.
Throat tension: Tension xuất hiện ở phần cổ của ca sĩ. Throat tension có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân thường gặp là do thiếu breath support, một số ca sĩ có thói quen squeeze các cơ cổ và tống một lượng lớn air pressure qua vocal cord để làm chúng rung động một cách không tự nhiên. Throat tension chính là căn nguyên của throaty sound.
Throaty: Chỉ việc người ca sĩ push quá mạnh không khí ra khỏi cổ cộng với sự thiếu breath support gây ra âm thanh rất strain và thiếu relax nơi cổ. Đôi khi do người ca sĩ thói quen đặt âm thanh ở cổ khi hát, hay thường gọi nôm na là “hát bằng cổ” cũng làm xuất hiện throaty sound.
Toungue tension: Chỉ sự căng thẳng ở phần lưỡi khi hát note cao, tongue tension thường xảy ra chủ yếu do sự căng thẳng của phần phần gốc của lưỡi, nhiều lúc khiến cho ta cảm giác như ca sĩ đang ngậm vật gì trong miệng khi hát hoặc tạo âm thanh nghe thiếu độ mềm mại, hơi cứng.
Vibrato: Kỹ thuật rung giọng khi hát.
Healthy vibrato: Vibrato xuất phát từ lực cơ hoành và không làm cản trở support của ca sĩ.
Vocal connection: Thường dùng để chỉ sự kết nối giữa các connected register với nhau.
Vocal placement: Như placement.
Vocal range: Quãng giọng, tính từ note thấp nhất tới note cao nhất mà người ca sĩ có thể hát được.
Tuy nhiên khi tìm hiểu thêm trên các video youtube thì thấy thông tin không đồng nhất. Cần tìm hiểu thêm.
Bài này minh họa về quá trình tri giác và ảo tưởng. Ngoài ra, nội dung cũng khá hữu ích cho các chuyên gia Ngôn ngữ trị liệu tìm hiểu về “Lời nói”. Bài dịch có thay đổi một số chi tiết để làm rõ hơn khía cạnh tri giác, ảo tưởng và lời nói.
Bởi: Martha Henriques Ngày 11 tháng 7 năm 2018. “How Ventriloquism Tricks the Brain”- NATURAL SCIENCE
Thuật nói bụng tác động lên não như thế nào Nghiên cứu mới cho thấy bộ não của chúng ta đặt trọng tâm vào thị giác hơn là thính giác trong việc xác định nguồn gốc của âm thanh. Nhưng tại sao? Hầu hết thời gian, bộ não con người hoạt động giống như một cỗ máy thông minh, ghép nối liền mạch (tri giác) những cảm giác từ các giác quan khác nhau tấn công chúng ta từ mọi góc độ trong suốt thời gian thức giấc. Năm giác quan chính của chúng ta—thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác và vị giác—nhận tín hiệu từ môi trường thông qua các tế bào chuyên biệt, gửi một dòng tín hiệu liên tục đến não. Bộ não thường làm rất tốt việc hiểu những cảm giác lộn xộn này, đôi khi quá tốt. Khi bộ não gặp phải “trục trặc” trong “ghép” thông tin mà nó nhận được từ môi trường xung quanh, mô hình bất thường này dẫn đến một số ảo tưởng kỳ dị. Thuật nói bụng, khi chúng ta cảm nhận được âm thanh phát ra từ một vật thể mà thực tế là im lặng, là một ví dụ kinh điển về ảo tưởng này, với một biểu diễn trên sân khấu múa rối, giữa con rối và người biểu diễn điều khiển nó. Người biểu diễn nói trong khi cử động môi ít nhất có thể, đồng thời thực hiện các chuyển động rõ ràng hơn ở miệng của con rối. Kết quả là con rối vô tri dường như là người tạo ra những câu châm biếm và pha trò chứ không phải người nói bụng. Sai lầm (của ảo tưởng) trong thủ thuật này liên quan đến việc người biểu diễn, bằng cách nào đó “ném” giọng nói của họ thông qua một thủ thuật thông minh. Trên thực tế, chính bộ não của khán giả mới thực hiện ảo tưởng này. “Hãy tưởng tượng bạn nghe thấy một âm thanh lớn, đồng thời có sự xuất hiện đột ngột của một thứ gì đó. Sau đó, tự động – do sự trùng hợp về thời gian – bạn sẽ có xu hướng liên kết hai sự kiện này có cùng nguồn gốc,” Salvador Soto-Faraco, Giáo sư Nghiên cứu ICREA tại Đại học Pompeu Fabra ở Tây Ban Nha, người nghiên cứu về nhận thức và khả năng nói bụng, cho biết. “Đó là suy luận xảy ra trong ảo tưởng của người nói bụng.” Trong cuộc sống đời thường, việc cho rằng âm thanh và chuyển động đi đôi với nhau là một điều rất hợp lý. Một tiếng nổ lớn và một tia sáng xảy ra cùng lúc thường là hậu quả của một sự kiện duy nhất—chẳng hạn như tiếng xèo xèo và tia lửa điện từ phích cắm hoặc tiếng còi báo động và đèn nhấp nháy của xe cứu thương. Điều quan trọng là hai sự kiện thị giác và thính giác phải xảy ra gần như cùng lúc để thủ thuật này phát huy tác dụng. Soto-Faraco cho biết: “Ảo tưởng nói bụng có thể được tạo ra mạnh mẽ hơn hoặc yếu hơn, tùy thuộc vào thời điểm giữa ánh sáng nháy và âm thanh”. “Nếu có một khoảng cách dài hơn thì đột nhiên ảo tưởng không còn mạnh nữa.” Thính giác của chúng ta báo cáo thông tin về vị trí của âm thanh theo một cách rất khác so với thị giác của chúng ta. Đối với chúng ta, việc xác định vị trí của một vật thể trong không gian là điều cực kỳ dễ dàng, nhưng cố gắng xác định chính xác nơi âm thanh phát ra chỉ nhờ thính giác – tức là khi nhắm mắt – thì khó hơn rất nhiều. Hãy nghĩ xem việc bịt mắt sẽ khó khăn hơn nhiều khi chơi bóng đá. Bạn có thể nghe thấy, nhưng thực tế bạn không thể nhìn thấy chính xác vị trí của quả bóng. Soto-Faraco cho biết: “Ở đây chúng ta có hai phương thức cảm giác khác nhau cung cấp thông tin về vị trí không gian, nhưng theo những cách rất khác nhau”. “Chúng tôi có thể nghĩ ra các loại tiền tệ khác nhau. Chúng không thể được sử dụng trực tiếp cùng nhau. Họ phải được chuyển đổi.” Trong chuyển đổi này, não đặt trọng tâm vào thị giác hơn là thính giác. Điều này là do thị giác có xu hướng chính xác hơn nhiều. Soto-Faraco cho biết: “Trong 99,9% tình huống trong cuộc sống hàng ngày, điều này đáng tin cậy và không dẫn đến ảo tưởng – nếu không chúng ta sẽ hoàn toàn bối rối ”. Nhưng đây chính là khoảng mà ảo ảnh nói bụng khiến não bộ bị kích động: thông tin cảm giác từ thị giác không đáng tin cậy. Miệng con rối đang cử động nhưng không có âm thanh nào phát ra. Thính giác bị chi phối bởi thị giác. Kết quả là, chúng ta thực sự thấy giọng nói của người biểu diễn rối đang phát ra từ miệng con rối. Trên thực tế, có một quy luật cực kỳ đơn giản về cách não cân nhắc thông tin mà nó nhận được từ các nguồn cảm giác khác nhau. Nó dường như hoạt động theo một mô hình được gọi là “lý thuyết tích hợp tối ưu”. Lý thuyết này có thể được mô tả bằng một công thức toán học để quyết định mức độ tin cậy đối với bất kỳ thông tin cảm giác cụ thể nào tại một thời điểm nhất định. Vì vậy, nói cách khác, ảo tưởng nói bụng xảy ra khi não tính toán đúng, nhưng câu trả lời lại hơi sai do sắp đặt cố tình lừa dối trong môi trường.
Vào năm mới 2024, mình dự kiến sẽ triển khai các nội dung kiến thức cho mảng hoạt động Ngôn ngữ trị liệu, thông qua việc soạn tài liệu và hệ thống hóa kiến thức cho các bạn đã là nhà chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực này.
Việc làm này, xét về mặt lý thì có vẻ không ổn lắm. Vì thế nào mình cũng bị hỏi là “theo chuẩn nào”, một câu hỏi rất khó trả lời khi mà bản thân lĩnh vực này có sự tham gia của rất nhiều nhà chuyên gia, từ nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác.
Vì vậy, việc làm của mình, xuất phát từ góc nhìn của nhà Tâm thần học về ngành nghề này, và trả lời câu hỏi “kiến thức nào cần để nhà Ngôn ngữ trị liệu thực hành nghề và tự cập nhật kiến thức ?)
Trong khi làm việc cùng nhóm, điều dưỡng thường bị coi là “thực thi các công việc lặt vặt, tay chân cho bác sĩ”. Nhưng đã đến lúc các bác sĩ cần biết đồng nghiệp của mình làm việc gì.
Theo “Điều dưỡng học căn bản” của Potter và Perry, nhà xuất bản Mosby 2009:
Năm 2002 Hội đồng điều dưỡng quốc tế ICM đã ban hành định nghĩa cập nhật về điều dưỡng. Điều dưỡng bao gồm sự chăm sóc tự chủ và hợp tác của các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, dù ốm đau hay khỏe mạnh và trong mọi môi trường. Điều dưỡng bao gồm việc nâng cao sức khỏe; phòng ngừa bệnh tật; và chăm sóc người bệnh, người khuyết tật, và người cuối đời. Vận động chính sách, thúc đẩy môi trường an toàn nghiên cứu, tham gia xây dựng chính sách y tế quản lý bệnh nhân và hệ thống y tế cũng như giáo dục, là những vai trò quan trọng của điều dưỡng
Định nghĩa mới này cung cấp một số chìa khóa để hiểu rõ về hệ thống chăm sóc sức khỏe hoặc điều dưỡng hiện đại ngày nay bao gồm những điều sau
Phạm vi từ lúc sinh đến lúc già hoặc cuối đời
Tình trạng sức khỏe của người được chăm sóc nâng cao sức khỏe phòng bệnh chăm sóc bệnh tật chăm sóc người khuyết tật hoặc người cuối đời
Phạm vi vai trò của điều dưỡng bao gồm thực hành lâm sàng, chăm sóc môi trường, vận động khách hàng, nghiên cứu quản lý khách hàng, quản lý hệ thống y tế, chính sách giáo dục và y tế
Phạm vi của các mối quan hệ điều dưỡng chăm sóc khách hàng, hợp tác chăm sóc gia đình, hợp tác nội bộ và liên chuyên môn, và tất cả các biến thể của những mối quan hệ này
Theo Samantha Bramich trên Journal of Neurology (2022) 269:4684–4695 thì:
Rối loạn hành vi giấc ngủ REM tách biệt (iRBD) được đặc trưng bởi các hành vi thực hiện giấc mơ, chẳng hạn như đá và đấm khi đang ngủ và những giấc mơ sống động/bạo lực. Hiện nay nó được thừa nhận là giai đoạn báo trước của bệnh thoái hóa thần kinh – khoảng 80% số người mắc iRBD sẽ phát triển sa sút trí tuệ với bệnh Lewy Bodies, bệnh Parkinson hoặc một bệnh thoái hóa não khác trong vòng 10 năm.
Tuy nhiên, việc chẩn đoán có thể gặp khó khăn về mặt lâm sàng do nhiều lý do, bao gồm cả việc chuyển viện chậm, triệu chứng trùng lặp với các rối loạn khác và sự không chắc chắn về cách xác nhận chẩn đoán. Hiện có một số phương pháp đánh giá, chẳng hạn như phỏng vấn lâm sàng, bảng câu hỏi sàng lọc và ghi lại giấc ngủ bằng video hoặc ‘nghiên cứu về giấc ngủ’.
“Các giai đoạn phát âm liên quan đến giấc ngủ và/hoặc hành vi vận động phức tạp lặp đi lặp lại; những hành vi này được ghi lại bằng kỹ thuật đo đa kí giấc ngủ (PSG) xảy ra trong giấc ngủ REM hoặc dựa trên lịch sử lâm sàng về việc thực hiện giấc mơ, được cho là xảy ra trong giấc ngủ REM; Bản ghi PSG thể hiện giấc ngủ REM không mất trương lực cơ (RSWA); và sự xáo trộn không thể được giải thích tốt hơn bởi một rối loạn giấc ngủ, rối loạn tâm thần, lạm dụng thuốc hoặc chất gây nghiện khác” American Academy of Sleep Medicine (2014)
Bị nghi ngờ iRBD
Nghi ngờ ban đầu về iRBD thường do người ngủ chung giường đưa ra, người này nhận thấy những hành vi bất thường trong khi ngủ. Hành vi thường bao gồm la hét, đá, đấm và những hành động phức tạp hơn, chẳng hạn như di chuyển đồ đạc quanh phòng. Điều này có thể khiến cá nhân phải hẹn gặp bác sĩ đa khoa để điều tra, nhưng cũng có thể bị bỏ mặc trong nhiều năm, đặc biệt nếu các triệu chứng iRBD dao động, được coi là không quan trọng về mặt y tế hoặc nếu không có bạn tình cùng giường. Ngay cả khi đến cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, chẩn đoán sai có thể xảy ra do thiếu nhận thức về iRBD trong y học tổng quát và/hoặc các triệu chứng giống với các rối loạn giấc ngủ thông thường khác. Ví dụ, chuyển động của cơ thể iRBD có thể bị chẩn đoán nhầm là rối loạn vận động chân tay định kỳ (PLMD) hoặc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) có thể bị chẩn đoán nhầm khi iRBD biểu hiện thường xuyên thức giấc về đêm. RBD có thể liên quan đến việc sử dụng thuốc chống trầm cảm kéo dài, với một số loại thuốc chống trầm cảm được phát hiện là gây ra các triệu chứng RBD. Đặc biệt, các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) có liên quan đến sự khởi phát các triệu chứng RBD, trong khi mối liên quan chưa được tìm thấy với việc sử dụng thuốc chống trầm cảm ba vòng. RBD thứ cấp cũng là một đặc điểm đã biết của bệnh teo đa hệ thống (MSA) và có thể xảy ra trong bệnh đa xơ cứng (MS) và các trường hợp đột quỵ. Tuy nhiên, với RBD thứ phát, điều quan trọng là phải phân biệt được RBD trong bối cảnh bệnh lý synuclein (trong đó bệnh này rất thường gặp ở 50% bệnh nhân PD, 80% bệnh nhân DLB và tới 100% bệnh nhân MSA) và các bệnh thần kinh khác (MS và đột quỵ), đây là một biểu hiện hiếm gặp. Những điểm tương đồng này với các tình trạng khác và các yếu tố liên quan cho thấy nghi ngờ ban đầu về iRBD có thể bị bỏ sót như thế nào, vì việc điều tra các rối loạn giấc ngủ hiếm gặp và giới thiệu đến các dịch vụ chuyên khoa (chẳng hạn như thần kinh hoặc đơn vị ngủ) hiếm khi được xem xét ở các cơ sở chăm sóc ban đầu.
Sự thiếu nhận thức của các nhà thần kinh học và các chuyên gia khác cũng có thể góp phần gây ra sự chậm trễ trong chẩn đoán, với một nghiên cứu cho thấy 31% bệnh nhân không nhận được chẩn đoán iRBD kịp thời (chậm trễ trung bình 8,7 năm kể từ khi khởi phát triệu chứng) do bác sĩ chuyên khoa của họ không thành công (bao gồm cả các nhà thần kinh học) để nhận biết các triệu chứng. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy rằng ngay cả những bệnh nhân có lo lắng về giấc ngủ cũng hiếm khi được hỏi về triệu chứng iRBD cụ thể, với phần lớn các PSG dương tính với iRBD được yêu cầu vì các lý do khác, chẳng hạn như nghi ngờ rối loạn nhịp thở khi ngủ hoặc mất ngủ. Những phát hiện này cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá lâm sàng kỹ lưỡng khi bệnh nhân có triệu chứng iRBD, vì việc thiếu nhận biết ban đầu có thể cản trở quá trình chẩn đoán và làm giảm cơ hội quản lý bệnh, đặc biệt là xác định ND sớm và điều trị tiềm năng.
Đại cương Các rối loạn tâm thần thực tổn (chương 1) Một số cập nhật về Tâm thần kinh học, Khoa học thần kinh và xu thế can thiệp đa ngành
04
2
– Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần (chương 2) – Các rối loạn loạn thần (chương 3) – Các rối loạn khí sắc (chương 4) – Tác động không xâm lấn
04
3
– Các rối loạn liên quan đến stress (chương 5) – Hội chứng hành vi kết hợp với các rối loạn sinh lý (chương 6) – Liệu pháp tâm lý
04
4
Các rối loạn tâm thần ở trẻ em và vị thành niên (chương 7) Hóa dược điều trị các rối loạn tâm thần
04
Sinh viên chuẩn bị: viết thuyết trình các bài học theo buổi học, lưu ý
Mỗi bài do 1 nhóm chuẩn bị, phân công ít nhất 2 bạn trình bày, đề phòng có việc đột xuất. Một nhóm không được kiêm 2 bài trình bày trong 1 buổi học.
Slide trình chiếu ghi dưới dạng các từ khóa. Không copy đoạn văn bản dài.
Trình bày trong vòng 5-10 phút, không liệt kê các mục vì đã có sẵn tài liệu. Hãy trình bày về việc đọc hiểu bài học.
Cần trao đổi trước buổi trình bày liên hệ zalo 0988366618 hoặc zalo 0372776527. Các bạn học lại, cải thiện liên hệ BSNT Quỳnh số 0985728210.
Bài cập nhật trong buổi 1 tham khảo ở đây về dàn bài và viết thuyết trình với kiến thức đã học trong năm 3. Giảng viên có trình bày ngắn về cập nhật sau đó.
(lưu ý, đây không phải thể loại văn chứng minh, mà là áp dụng lý thuyết vào thực tế)
Phân tích tình huống theo cách tiếp cận trong bài Xã hội tính của con người
Phân tích tình huống theo cách tiếp cận Tâm lý phát triển
Phân tích tình huống theo cách tiếp cận Stress và ứng phó (bài đã được trình bày trong môn Tâm lý y đức, hoặc xem bài Tâm lý học sức khỏe trong tài liệu)
Phân tích tình huống theo cách tiếp cận Nhân cách
Phân tích tình huống theo cách tiếp cận Giao tiếp “thày thuốc và bệnh nhân”
Nhóm 2 Kĩ năng hỏi bệnh sử, tiền sử
Nhóm 3 Kĩ năng cung cấp thông tin
Nhóm 4 Kĩ năng thông báo tin xấu Phần thực hành sẽ dùng để đánh giá điều kiện thi – không đạt tương đương vắng 2 buổi lý thuyết
Hệ thần kinh ngoại vi đã có những hoạt động cực kì phức tạp để đảm bảo các cảm giác- vận động và các phản ứng sinh lý bên trong cơ thể đáp ứng phù hợp với môi trường. Hệ thần kinh trung ương lại còn hoạt động phức tạp hơn thế bởi vì nó phải đảm nhiệm các hoạt động tinh thần, cả vô thức và có ý thức. Ở thần kinh ngoại vi, chúng ta nhận thức về các dây thần kinh và các trung khu, còn ở thần kinh trung ương, chúng ta phải hiểu biết các mạch thần kinh.
Phần mô tả sau đây trích từ Sách giáo khoa Tâm thần học của Mỹ, “Kaplan and Sadock’s Comprehensive Textbook of Psychiatry”, phiên bản 2017, chương 1, phần 2 “Giải phẫu thần kinh chức năng” của DARLENE SUSAN MELCHITZKY, M.S., và DAVID A. LEWIS, M.D.- phần nói về “Mạch chức năng”.
KẾT NỐI VỎ-VỎ. Kết nối vỏ não bao gồm phần lớn các kết nối nội tại vỏ não và có thể được chia thành ba loại cơ bản: (1) nội vùng — kết nối trong một vùng vỏ não, (2) liên hiệp — kết nối giữa các vùng vỏ não trong cùng một bán cầu, và (3) liên bán cầu- kết nối giữa các vùng vỏ não ở các bán cầu khác nhau. Các kết nối nội vùng được hình thành bởi các sợi trục hệ phụ của tế bào tháp, trong khi các kết nối liên hiệp và liên bán cầu được hình thành bởi các sợi trục chính của tế bào tháp.
Các kết nối vỏ- vỏ chịu trách nhiệm về hoạt động phối hợp của các nhóm lớn tế bào thần kinh phân bố trong và khắp các vùng vỏ não. Sự đồng bộ của hoạt động này dường như liên quan đến phần lớn các chức năng tri giác và nhận thức của vỏ não.
Hoạt động thần kinh đồng bộ hay dao động của các nhóm tế bào thần kinh được kết nối này tạo ra các dạng hoạt động điện đặc trưng có thể được ghi lại bằng điện não đồ (EEG). Số lượng tế bào thần kinh dao động cùng nhau ở một tần số cụ thể càng lớn, thì biên độ của tín hiệu điện não đồ càng tăng cao trên nền nhiễu xung quanh. Các dao động này được nhóm thành các dải tần số khác nhau như θ (4 đến 8 Hz), α (8 đến 12 Hz) và γ (30 đến 80 Hz). Hoạt động dao động trong tất cả các dải tần số được cho là phát sinh từ mạng lưới các neuron ức chế, GABAnergic, mà đầu ra của chúng điều chỉnh hoạt động của các tế bào tháp.
Dao động tần số cao đã được đề xuất như một cơ chế khả dĩ để tích hợp các mạng lưới thần kinh phân tán liên quan đến một loạt các quá trình tâm thần như tri giác, chú ý và nhận thức. Các dao động dải γ-Band trong DLPFC (vỏ não trán trước lưng ngoài) được cho là nền tảng thần kinh quan trọng để nhận thức. Hơn nữa, các kết nối synap giữa phân lớp tế bào giỏ parvalbumin của neuron GABA và tế bào tháp ở trán trước lưng ngoài dường như tạo ra hoạt động dao động này. Điều thú vị là những người bị tâm thần phân liệt thể hiện sự thấp hơn của dao động γ được ghi lại từ DLPFC khi thực hiện các nhiệm vụ nhận thức, có lẽ là hậu quả của những bất thường trong hệ thống GABAergic, bao gồm neuron PV, được quan sát thấy trong DLPFC sau khi chết ở những người bị tâm thần phân liệt.
MẠNG LƯỚI CÁC MẠCH VỎ-VỎ. Việc nghiên cứu các kết nối vỏ-vỏ trước đây chỉ có thể thực hiện được ở động vật với việc sử dụng các phương pháp dò đường. Mặc dù những cải tiến trong các phương pháp này đã tinh chỉnh và đào sâu kiến thức của chúng ta về các truyền dẫn giữa các vùng vỏ não khác nhau, các mối liên hệ được tiết lộ bởi phương pháp này chỉ có thể được suy ra là giống với người. Trong 20 năm qua, các nghiên cứu hình ảnh thần kinh đã mở rộng kiến thức của chúng ta về khả năng kết nối vỏ-vỏ ở người. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là hầu hết các nghiên cứu hình ảnh thần kinh này đã xác định kết nối chức năng (tức là các vùng não được kích hoạt trong một nhiệm vụ cụ thể) chứ không phải kết nối vật lý giữa các vùng. Bằng chứng về các kết nối trực tiếp về cấu trúc giải phẫu trong não người rất thưa thớt, mặc dù các kỹ thuật hình ảnh mới hơn như DTI cung cấp một số chi tiết về cấu trúc. Mạng lưới vỏ -vỏ quy mô lớn liên kết các khu vực phân tán tổ chức các chức năng biệt định, chẳng hạn như sự chú ý hoặc trí nhớ, đã được đề xuất từ lâu và hiện đang được nghiên cứu dễ dàng hơn với các kỹ thuật hình ảnh thần kinh nói trên. Nhiều mạng đã được mô tả, nhưng ba mạng cụ thể nhận được sự tập trung lớn nhất.
Mạng điều hành trung tâm bao gồm DLPFC và nhiều vùng của vỏ não đỉnh sau ngoài và tham gia vào một số chức năng nhận thức như chú ý, trí nhớ làm việc và ra quyết định (Bảng) .
Mạng nổi bật, bao gồm vỏ não đai trước (ACC), vỏ não trán trước bụng trong (VMPFC) và thùy đảo, phản ứng với mức độ nổi bật của thông tin nhận thức, cân bằng nội môi hoặc cảm xúc (Bảng).
Có lẽ mạng có tính nội tại nhất đã được mô tả là mạng chế độ mặc định, được hình thành bởi vỏ não trán trước trong, vỏ não đai sau và các vùng bên trong của vỏ não đỉnh sau. Các vùng não của mạng chế độ mặc định hoạt động khi một người đang nghỉ ngơi và không tham gia vào một nhiệm vụ do bên ngoài gợi ý, khiến các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng mạng này liên quan đến các chế độ nhận thức bên trong bao gồm nhớ lại trải nghiệm cá nhân, hình dung tương lai và lý thuyết tâm trí (Bảng ).
Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng ba mạng này tương tác với nhau, với mạng nổi bật hoạt động như một công tắc giữa mạng điều hành trung tâm tích cực với nhiệm vụ và mạng chế độ mặc định phủ định nhiệm vụ. Vùng trán-đảo của mạng nổi bật dường như đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi giữa chế độ mặc định và mạng điều hành trung tâm. Thật thú vị, lớp tế bào thần kinh von Economo đặc trưng của người chỉ được tìm thấy ở vỏ não trán-đảo và có ý kiến cho rằng những tế bào thần kinh này chịu trách nhiệm về khả năng chuyển đổi của mạng nổi bật.
Bảng . Mạng chức năng trong vỏ não
Mạng lưới
Vùng não liên quan
Chức năng
Điều hành trung tâm
DLPFC Vỏ não đỉnh sau ngoài
Chú ý Trí nhớ làm việc Ra quyết định
Nổi bật
Vỏ não đai trước VMPFC Thùy đảo
Kiểm soát kích thích đến
Mặc định
Vỏ não trán trước trong Vỏ não đai sau Vỏ não đỉnh sau trong
Nhận thức bên trong Thuyết tâm trí
Cho rằng các mạng lưới này liên quan đến việc xử lý thông tin nhận thức và cảm xúc, không có gì ngạc nhiên khi sự rối loạn chức năng của chúng có liên quan đến nhiều loại rối loạn tâm thần kinh. Ví dụ, những người bị trầm cảm có khả năng kết nối chức năng cao bất thường trong mạng chế độ mặc định và giảm khả năng kết nối giữa các khu vực liên quan đến mạng điều hành trung tâm. Trong bệnh tâm thần phân liệt, sự kết nối chức năng qua chế độ mặc định, mạng điều hành trung tâm và mạng nổi bật ít được tổ chức hơn. Đặc biệt, rối loạn chức năng mạng nổi bật, có lẽ do giảm chất xám trong thùy đảo và / hoặc hồi đai trước, dẫn đến sự mất cân bằng giữa mạng chế độ mặc định và mạng điều hành trung tâm. Sự cố kết nối mạng này có thể dẫn đến sự gián đoạn khả năng phân biệt giữa thế giới bên ngoài và những suy nghĩ và cảm nhận bên trong, biểu hiện dưới dạng các triệu chứng rối loạn tâm thần như hoang tưởng và ảo giác.